Author Archive

Diệp Vấn: Cuộc đời và Võ thuật

Đại Sư Diệp Vấn

Đại Sư Diệp Vấn

(Ghi chép bởi Diệp Chẩn, con trai của Diệp Vấn)
Sinh ngày tháng 10 năm 1893, qua đời tháng 12 năm 1972 ở tuổi 79. Tôn sư Diệp Vấn đã dành toàn bộ cuộc sống của mình như là nhà truyền nhân vô địch của Vịnh Xuân Quyền. Ông chịu trách nhiệm đẩy danh tiếng Vịnh Xuân phát huy tính ưu việt của nó như ngày hôm nay. Khắp thế giới, môn sinh của Vịnh Xuân Quyền tiếp tục xuất bản các bài viết về Tôn Sư Diệp Vấn, về cuộc sống của ông và những thành tựu. Vì thế, để chào mừng kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Ông biên niên này đang được sản xuất cho tất cả những người quan tâm đến Vịnh Xuân Công phu.

Biên niên sử này viết về Diệp Vấn và đóng góp của ông với phong cách của Vịnh Xuân Quyền. Do đó, các chi tiết của cuộc sống của mình, đào tạo và nghề nghiệp của ông, sẽ chỉ được viết vắn tắt. Hiện có hàng ngàn môn sinh của Vịnh xuân quyền và những người không được đề cập trong bài này thông cảm với tác giả vì thiếu thông tin và kiểm chứng. Diệp Vấn sinh ngày 14 tháng 10 1893 trong triều đại nhà Thanh (Kand Shoui – 05 Tháng 9 trong lịch Trung Quốc) trong thị trấn Phật Sơn ở tỉnh Quảng Đông sau đó ở Lâm Hội quận. Vì vậy, nơi sinh Diệp Vấn thường được gọi là Lâm Hội, Quảng Đông.

Cha Ông là Diệp Bá Đa/Yip Oi Dor, mẹ ông là Ng Thủy, ông là một trong bốn anh chị em. Anh trai của ông được gọi là gei Gak (Diệp Vấn ban đầu còn được gọi là gei Man). Cô em gái tên là Wan Mei (Sik Chung)

– 1899 đến năm 1905 (Ching Kwong Thủy?). Diệp Vấn 6 đến 12 năm tuổi. Địa điểm: Phật Sơn. Ông học Vịnh Xuân Công phu của Trần Hoa Thuận (Money Changer Wan). Vị trí là thị trấn chính trong Phật Sơn ở đường Yun( Dai Gai?) trong hội trường gia đình họ Diệp. Khu vườn bây giờ thuộc sở hữu của chính phủ và hội trường không còn ở đó. Đồng thời học tập cùng với Diệp Vấn có các Sư huynh: Lôi Nhữ Tế, Ngô Trọng Tố, Ngô Tiểu Lỗ và những người khác.
– 1905 (Ching Kwon Thủy?). Diệp Vấn 12 tuổi. Địa điểm: Phật Sơn. Trần Hoa Thuận đã qua đời, nhưng trước khi ông qua đời, ông căn dặn Ngô Trọng Tố giúp Diệp Vấn để hoàn thành hệ thống Vịnh Xuân. Thi thể của Trần Hoa Thuận đã được chôn cất bởi các môn đệ của ông trong làng Thuận Đức.
– 1937 (Mãn Quốc năm 26) Diệp Vấn 44 tuổi. Địa điểm: Phật Sơn. Nhật xâm lược miền nam Trung Quốc.
– 1937 đến 1945 (Mãn Quốc năm 26 đến 34) Diệp Vấn 44 đến 52 năm tuổi. Địa điểm: Phật Sơn. Trong suốt 8 năm, Diệp Vấn đã chiến đấu với người Nhật khi Phật Sơn bị chiếm đóng và cai trị bởi một chính phủ bù nhìn. Tôn Sư thề không làm việc cho chính phủ bù nhìn, do đó ông đã trở nên rất nghèo và ông đã thường bị đói. May mắn nhờ người bạn tốt của mình, Chu Trương Chung, cho ông thực phẩm theo thời gian. Diệp Vấn muốn đền đáp lại lòng tốt của mình và do đó chấp nhận con trai ông, Chu Quang Dụ, là học trò của mình. Từ 1941 đến 1943, ông dạy Vịnh Xuân Công phu trong nhà máy nghiền bông Vĩnh An. Tại thời điểm này cùng học tập với Chu Quang Dụ có Quốc Phù, Trần Chi, Ngô Vịnh, Luân Giai, Chu Tế và những người khác. Đây là những môn sinh thế hệ đầu tiên Diệp Vấn truyền dạy. Quách Phú và Luân Giai vẫn còn sống và giảng dạy Vịnh Xuân quyền ở Trung Quốc ngày hôm nay, tại Phật Sơn, Quảng Châu.
– 1945 (Mãn Quốc năm 34) Diệp Vấn năm 52 tuổi. Địa điểm: Phật Sơn. Năm Nhật đầu hàng.
– 1945 đến 1949 (Mãn Quốc năm 34 đến 38) Diệp Vấn 52 đến 56 năm tuổi. Đến từ: Quảng Châu, Phật Sơn. Trong khoảng thời gian này, Diệp Vấn bận rộn nhất với công việc của mình tại nơi làm việc, mặc dù yêu thích Vịnh Xuân quyền, nhưng ông đã dừng giảng dạy nó trong một thời gian. Cho đến khi, vào năm 1948, thông qua người bạn rất tốt của ông là Đường Giai, ông được giới thiệu với Bành Thụ Lâm để dạy cho anh ta Vịnh Xuân quyền. Qua thời gian bận rộn này, Diệp Vấn truyền dạy Bành Lâm theo giáo trình ở Thượng Phật Trương Nhị Hiệp Hội.
– 1949 (Man Kwok năm 38) Diệp Vấn 56 tuổi. Đến từ: Macao và Hồng Kông. Diệp Vấn đã đi qua Macao đến Hồng Kông, nhưng trong khi ở Macao, ông đã có hai tuần ở tại Cho Doi đường với những người bạn sở hữu một cửa hàng gia cầm.

Diệp Vấn đánh Mộc Nhân

Diệp Vấn đánh Mộc Nhân

– 1950 đến 1953 (Man Kwok năm 39 đến 42) Diệp Vấn 57 đến 60 năm tuổi. Địa điểm: Hong Kong Trong tháng 7 năm 1950, thông qua giới thiệu của Lý Dân, Diệp Vấn bắt đầu giảng dạy ở đường Đại Lâm, Cao Lôn, Hồng Kông. Lớp học đầu tiên đã được Hiệp hội Công nhân nhà hàng giúp đỡ. Khi ông mở lớp học này chỉ có 8 người bao gồm cả Lương Tướng và Lạc Diệu. Tất cả những nhân viên nhà hàng, nhưng sau đó có Từ Thượng Điền, Diệp Bì Chính, Triệu Vấn, Lý Ân Vinh, Luật Bành, Diệp Tiểu Hưng và những người khác. Đây là những người cóvị trí hàng đầu của Hiệp hội Công nhân nhà hàng lúc này. Diệp Vấn cũng giảng dạy cho công nhân trong chi nhánh nhà hàng Thượng Văn , , Union HQ tại Hồng Kông. Môn sinh bao gồm Lý Vịnh, Duệ Cường, Lý Lương Phẩm và những người khác.
– 1953 đến 1954 (Man Kwok năm 42 đến 43) Diệp Vấn 60 đến 61 năm tuổi. Địa điểm: Hồng Kông. Khi Lương Tướng thất bại trong cuộc bầu cử công đoàn, Diệp Vấn buộc phải di chuyển lớp học đến Hội Tần. Học tập tại thời điểm đó có Hoàng Thuần Lương, Vương Kiều, Vương Trắc, Ngô Trần và những người khác. Diệp Vấn cũng dạy tư nhân tại đền thờ Hoàng tử Ba trên đường Nguyệt Châu. Môn sinh là Lý Hùng và những người khác.
– 1954 đến 1955 (Man Kwok năm 43 đến 44) Diệp Vấn 61 đến 62 năm tuổi. Địa điểm: Hồng Kông. Lương Tướng đã được tái bầu làm chủ tịch của các công đoàn lao động nhà hàng và để Diệp Vấn di chuyển lớp học trở lại. Điều này được gọi là giai đoạn sau của Hiệp hội Công nhân nhà hàng. Tại thời điểm này, tham gia học tập có Lý Cẩm Sinh, Giản Hoa Tiệp(Victor Kan), Lư Văn Cẩm, Trương Trác Khánh(William Cheung) và những người khác.
– 1955 đến 1957 (Mãn Quốc năm 44 đến 46) Diệp Vấn 62 đến 64 năm tuổi. Địa điểm: Hồng Kông. Diệp Vấn di chuyển các trường ở phố Lý Đạt , Dao Mã Điếm ở Cao Lôn. Các môn sinh ở đây là Lý Tiểu Long, Trần Thành, Hầu Kiên Chương, Vi Ngọc Thụ, Bàn lai Bình, Bành Cẩm Phát và những người khác.
– 1957 đến 1962 (Mãn Quốc năm 46 đến 51) Diệp Vấn 64 đến 69 năm tuổi. Địa điểm: Hồng Kông. Trong suốt 5 năm Yip Man di chuyển qua các trường Lý Trương Oải Xuân. môn sinh là Mạc Bì, Dương Hắc, Mai Dật, Hồ Cẩm Minh và những người khác. Trong khoảng thời gian này Diệp Vấn giảng dạy chủ yếu là dạy tư. Tại cửa hàng đồ gốm Thuận Kỳ, môn sinh là Vương Phách Nhị, Vương Vĩ, Dương Chung Hán, Châu Lục Nhị, Hoàng Quốc Dân và những người khác. Tại Sầm Hạ Từ, Bàng Lực Hồng, môn sinh là những Đường Tào Trí, Chi Lý Phát, Triệu Sán Trác, Đàm Lai và những người khác. Tại đường Phật Đài, mon sinh là Trương Cẩm Xuyên, Xung Vĩnh Khang.
– 1962 đến 1963 (Mãn Quốc năm 51 so với 52) Diệp Vấn 69 đến 70 năm tuổi. Địa điểm: Hồng Kông. Diệp Vấn di chuyển trường đến 61 đường Phật Đài, một đơn vị trong việc xây dựng Heng Yip?. Môn sinh được dạy là Trương Nhữ Vinh, Hồ Luân, Chung Thanh An, Trần Vân Lâm, Trương Thái Nghiêm và Quốc Dân. Dạy tư tại cửa hàng may mặc Nhị Vĩ tại Tsim Sha Tsui. môn sinh là Peter Trương và một nhóm người của Phó Lực Hồng.
– 1963 đến 1965 (Man Kwok năm 52 đến 54) Diệp Vấn 70 đến 72 năm tuổi. Địa điểm: Hồng Kông. Trường được chuyển đến tầng trên cùng của nhà hàng Tương Thái ở phố Phúc Xuân, Tai Kok Tsui?. Đây vốn là các kho. Chủ sở hữu là Hồ Luân đã cho phép sử dụng phòng để dạy. Hầu hết những người từ các trường tại Yip Heng xây dựng cũng di chuyển đến đây. Cũng như Hồ Luânn còn có Dương Chung Hán, Nhất Dụng Tùng, Bành Cẩm Phát, Chính An, Lý Văn Vĩnh và Yau Hak. Trong giai đoạn này Diệp Vấn cũng dạy môn sinh chủ yếu là từ phía cảnh sát, tư nhân tại San Po Kong, đường Hin Hing. Họ gồm Đặng Tăng, Lâm Vĩnh Phát, Khổng Nguyên Chi, Lý Diêu Phi, Vương Các và những người khác.
– 1965 đến 1972 (Man Kwok năm 54 đến 61) Diệp Vấn 72 đến 79 năm tuổi. Địa điểm: Hồng Kông. Các trường học tại nhà hàng Sang và Diệp Vấn chuyển đến sống trên đường Tung Choi vì ông đã già. Mặc dù ông đã nghỉ hưu song ông vẫn dạy học tư nhân. Đi đến nhà của Diệp Vấn trong suốt thời gian này, là Vương Chung Hoa (Yat Oak Goi Tse), Hoàng Hội, Hồng Nhã Tam và những người khác. Ông cũng đã đi ra ngoài giảng dạy để bốn địa điểm:
1. Ving Tsun Athletic Hiệp hội, trong đó, vào năm 1967, là tổ chức võ thuật đầu tiên được đăng ký chính thức với chính phủ. Hiệp hội Ving Tsun Athletic sau đó đã quyết định mở các lớp học Công phu tại địa chỉ của hiệp hội. Hiệp hội bầu Diệp Vấn phụ trách giảng dạy. Giúp ông còn có Chính An, Phụng Khôn , Chung Vương Khôn và những người khác. Thời gian khoảng ba tháng.
2. Trên Waterloo Road, học tập ở đây là Trần Vĩ Hồng, anh em Tiểu Long, cũng Vương Chí An, Trần Cẩm Minh, Chung Diệu, Lưu Hội Lâm, Cương Văn Nghiêm và những người khác.
3. Chi Yau Road. Khi Trần Vĩ Hông đã có các hoạt động kinh doanh khác và không thể tiếp tục ở Waterloo Road, Diệp Vấn di chuyển đến tầng thượng của tòa nhà Lưu Hồ Lâm. Tham gia học tập ở đây Vương Chí Minh và ông cũng chính thức chấp nhận một nữ môn sinh là Ngô Nguyệt
4. Siu Fai Toi. Tại nhà của luật sư Diệp Tịnh Trác và một số môn sinh là khác mời của luật sư. Đây là nơi cuối cùng Diệp Vấn dạy Vịnh Xuân Công phu.
Diệp Vấn qua đời tại nhà riêng trên đường Tung Choi vào ngày 01 Tháng Mười Hai 1972 (Man Kwok năm 61). Ngày 26 tháng 10 âm lịch của Trung Quốc. Ông rất thích 79 năm của cuộc đời.

Nguồn: http://wingchunquan.blogspot.com/2012/12/diep-van-va-nien-bieu-cuoc-oi-vo-thuat.html

Quyền sư Lục Hào Kim

Quyền sư Lục Hào Kim

Quyền sư Lục Hào Kim

Nói đến Vịnh Xuân quyền, những người yêu võ thuật ở vùng Sài Gòn – Chợ Lớn liền nghĩ ngay đến quyền sư Lục Viễn Khai và đồ đệ Lục Hào Kim, những truyền nhân đưa môn võ học này tồn tại và phát triển ở Việt Nam.

Vịnh Xuân quyền do danh sư Nguyễn Tế Công truyền bá tại Hà Nội. Đến năm 1954, di cư vào nam, ông tiếp tục dạy môn công phu này tại Chợ Lớn cho 3 đồ đệ Quang Sáng, Trương Cao Phong và Lục Viễn Khai tại nhà nhị đệ tử Trương Cao Phong (tiệm may Thượng Hải, đường Đồng Khánh, Q.5). Ngoài dạy võ, Nguyễn Tế Công còn chữa trật đả, gãy xương tại tiệm thuốc Lôi Công đường (cạnh rạp hát Lido, Q.5).

Sau 8 năm thụ đắc Vịnh Xuân quyền từ Nguyễn sư phụ, Lục Viễn Khai chỉ truyền dạy cho 3 đồ đệ là bằng hữu Lương Kiều Vũ, bào đệ Lục Hào Kim và nữ võ sĩ Lý Huỳnh Yến tại tiệm photo Thần Quang (Tản Đà, Q.5), bởi Lục Hào Kim là thợ “tút rửa” ảnh tại đây và tiệm này có khoảng sân để luyện tập. Trong suốt thời gian truyền bá Vịnh Xuân quyền, không may quyền sư Lục Viễn Khai bị bệnh và ông tạ thế năm 1981, hưởng thọ 60 tuổi. Những gì ông truyền đạt lại đã được 3 đồ đệ nỗ lực giữ gìn, chỉ tiếc là người con trai Nguyễn Trí Thành lại không theo nghề võ.

Lục Hào Kim (sinh năm 1934) tại huyện Thuận Đức, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), vốn là vận động viên bơi lội, đến năm 22 tuổi mới theo sư huynh Lục Viễn Khai tập Vịnh Xuân quyền. Ông Lục Hào Kim cho biết: “Lấy nền tảng từ một môn võ có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm tại tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, môn phái Vịnh Xuân quyền từ chỗ chỉ được truyền dạy âm thầm trong các gia tộc trở thành một trong những phái võ được nhiều người biết đến và say mê luyện tập nhất, với hàng triệu đệ tử và hàng chục hệ phái trên toàn thế giới”. Vịnh Xuân quyền chỉ duy nhất bài Tiểu Luyện Đầu. “Theo sư huynh tôi truyền lại thì môn phái không có Ngũ Hình quyền và nội công như ở Hà Nội, tại Hồng Kông, danh sư Diệp Vấn (sư phụ ngôi sao điện ảnh Lý Tiểu Long – NV) gọi là Tiểu Niệm Đầu và chế tác thêm chiêu thức Trầm Kiều và Biêu Chỉ”, lão võ sư Lục Hào Kim tâm sự.

Bài danh quyền Tiểu Luyện Đầu gồm 36 chiêu thức như Vân trung hạc (hạc trong mây) là động tác khởi động, Hạc hình thư bộ (bộ pháp khoan thai), Đại Phật chuyển thân (luyện xoay eo lưng), Song xà xuất động (công kích địch thủ), Nhị tử kiềm dương mã (tấn pháp), Mai hoa bộ (thân, thủ, bộ pháp), Hạc hình (đánh chỏ, gối và 5 đầu ngón tay), Xà hình (hai tay dính liền với tay đối phương, luyện khớp dẻo dai), Tam tinh quyền (3 quả đấm thôi sơn liên hoàn) cùng 8 phương pháp gồm Thán (ém tay), Phục (đè tay), Bòn (lật vai), Trầm (ém tay), Xuyên (xỉa gạt từ dưới hất lên), Biếu (dùng Song chỉ thọc mắt), Lòn (lật mu bàn tay đánh lên), Tắc (dùng ức bàn tay đánh xuống).

Vịnh Xuân quyền không múa may hoa mỹ lại ít sử dụng đòn chân, chiêu thức tập trung ở mười đầu ngón tay, cạnh mu bàn tay và cùi chỏ, tấn công yếu huyệt địch thủ từ đỉnh đầu xuống thắt lưng như trán, mắt, cổ, họng, màng tang, yết hầu… Môn sinh phải luyện hai cánh tay linh hoạt, dẻo dai và uy lực qua phương pháp Tiêu đả (đối kháng, tiêu nghĩa là hóa giải, đả là tấn công), Niêm thủ (dính tay) kết hợp luyện đánh mộc nhân và bao cát mỗi ngày.

Năm 2014, quyền sư Lục Hào Kim bước sang tuổi 80 nhưng trông ông vẫn nhanh nhẹn, tráng kiện và minh mẫn. Mỗi ngày hai giờ ông lên tận tầng 3 luyện Tiểu Luyện Đầu, đánh mộc nhân và bao cát. Ngoài dạy kèm Vịnh Xuân quyền cho vài đồ đệ tại tư gia, quyền sư còn dành thời gian vẽ tranh thủy mặc (ông là hội viên Hội Mỹ thuật TP.HCM, hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam).

Nguồn: http://thethao.thanhnien.com.vn/pages/20140501/ky-nhan-lang-vo-ky-4-truyen-nhan-vinh-xuan-quyen.aspx

Trịnh Quốc Định – Niêm Côn

Cùng với Bát Trảm Đao, Lục Điểm Bán Côn được xem là binh khí đặc trưng của môn Vĩnh Xuân Quyền. Nếu như Bát Trảm Đao rất phù hợp với lối đánh gần, đòi hỏi sự linh hoạt của đôi tay, sự nhẹ nhàng uyển chuyển của bộ pháp, mang tính nhu nhuyễn, thì Lục Điểm Bán Côn phù hợp với lối đánh xa, đòi hỏi sức mạnh của đôi tay, sự vững chắc của bộ pháp, mang tính cương mãnh.

Trong môn Vĩnh Xuân, niêm là một kỹ thuật mang tính đặc trưng của bản môn. Niêm tay đã khó, niêm côn lại càng khó. Để thực hiện được kỹ thuật niêm côn đòi hỏi người luyện phải có một kungfu nhu nhuyễn lâu năm. Có nhiều tư liệu về Lục Điểm Bán Côn của các dòng phái ở Trung Quốc và Hồng Kông, nhưng tư liệu về niêm côn thì rất hiếm. Tại Việt Nam các tư liệu về binh khí, đặc biệt là về Lục Điểm Bán Côn hầu như vắng bóng. Có lẽ vì nó đơn giản quá chăng? Tư liệu về cố VS. Trịnh Quốc Định dưới đây là một trong những tư liệu hiếm hoi có đề cập đến kỹ thuật niêm côn của môn Vĩnh Xuân.

Xin giới thiệu để các bạn cùng tham khảo.

VXQuyền

Kỹ thuật Vĩnh Xuân Sầm Năng

Xin giới thiệu một số kỹ thuật căn bản của Vĩnh Xuân Sầm Năng.

 

Trò chuyện cùng võ sư Châu Phong

Đây là buổi trò chuyện của phóng viên báo Lao Động cùng võ sư Nguyễn Châu Phong, chủ nhiệm võ đường Vĩnh Xuân Châu Phong, về môn Vĩnh Xuân Quyền. Dưới đây là nội dung buổi trò chuyện.
Vĩnh Xuân_ChauPhong(1)

Trước đây, Vĩnh Xuân quyền từ chỗ chỉ được truyền dạy âm thầm trong các gia tộc, nay trở thành một trong những môn võ được nhiều người say mê luyện tập nhất, với hàng triệu đệ tử trên toàn thế giới.
Vĩnh Xuân quyền thường gắn với huyền thoại Lý Tiểu Long (1940-1973) – diễn viên võ thuật nổi tiếng Hollywood thập niên 1970. Tuy nhiên, tìm được một chân sư không hề đơn giản. Võ sư Nguyễn Châu Phong (SN 1956) là một người như thế, ông là đệ tử lớn của cụ Trần Văn Phùng (một trong những học trò đầu tiên của sư tổ Nguyễn Tế Công – hay còn gọi là Tài Cống – người truyền bá Vĩnh Xuân vào Việt Nam).

Trên sân võ, thoạt nhìn, cái dáng mảnh mai, cao lòng khòng bề ngoài của võ sư Nguyễn Châu Phong đã đánh lừa các môn sinh. Khi giao thủ, phản xạ của ông cực nhanh và những cú đánh còn lẹ hơn điện xẹt. Trong chớp mắt, môn sinh đã nằm lăn trên mặt đất, còn người ngoài đứng xem tuyệt không nhìn rõ đòn ra của ông. Võ sư Nguyễn Châu Phong nhấn mạnh: Vĩnh Xuân quyền khoan thai mà dũng mãnh.

– Theo ông, đâu là đặc trưng và thế mạnh của Vĩnh Xuân quyền so với các môn phái khác?

– Vĩnh Xuân quyền xuất phát từ Trung Quốc, đặc trưng môn này có nhiều nét đặc dị bởi nó có những bài luyện tập hết sức đặc biệt như niêm thủ, niêm cước, niêm thân hay linh giác. Hệ thống quyền thuật đơn giản không giống một môn phái nào, nhìn bề ngoài các môn sinh tập Vĩnh Xuân quyền luyện tập những động tác hết sức đơn giản, khoan thai nhẹ nhàng, không khoa trương hay bay nhảy, đã có nhiều người không thích vì không hiểu chiều sâu và hiệu quả của nó, thậm chí còn suy nghĩ: Thế này mà là võ ư? Thực ra, có thể xem Vĩnh Xuân quyền là môn “nhu thuật”, một môn thể thao nghệ thuật có tư duy logic rất cao. Nó là môn võ dành cho những người yếu, người yếu mà tập nó sẽ khắc phục được tình trạng sức khỏe (có rất nhiều người mang những bệnh mạn tính trong người, khi tập Vĩnh Xuân đã hết bệnh), thấy khỏe hơn, sung mãn hơn. Còn người khỏe mà tập nó thì sức lực càng vô cùng và bản thân Vĩnh Xuân quyền còn là môn võ được đúc kết, cắt gọt đến mức tinh giản, nên tính hiệu quả chiến đấu cực cao…

– Hiện ở VN có mấy nhánh của Vĩnh Xuân quyền và nó có khác nhau nhiều không, thưa ông?

– Ở miền Bắc hiện nay có nhiều nhánh như nhánh cụ Trần Văn Phùng (sư phụ của tôi), nhánh cụ Trần Thúc Tiển, nhánh cụ Vũ Bá Quý, cụ Ngô Sỹ Quý… và nhiều nhánh ở trong TPHCM nữa…. Về cơ bản, gốc đều như nhau, nhưng trong khi học Vĩnh Xuân quyền, mỗi người đều hiểu, học nó theo cái ngộ của chính kiến bản thân mình. Sau này, khi phát triển và truyền dạy theo đó cũng khác nhau.

– Hẳn cũng như các môn phái khác, Vĩnh Xuân quyền đòi hỏi sự khổ luyện, nhưng sự khổ luyện ở đây có gì đặc biệt không, thưa ông?

– Việc khổ luyện chia theo từng giai đoạn. Sự khổ luyện nằm trong ý thức, với tôi 24h trong ngày là tập và luyện. Không nhất thiết phải tạo ra một cung thời gian, vì mỗi người có những điều kiện khác nhau. Bất kỳ môn võ nào cũng đều cần khổ luyện. Nếu có ý chí và quyết tâm cao thì có thể vượt qua tất cả và chắc chắn sẽ thành công.

Theo tôi, tư chất của mỗi người là quan trọng, nhưng quan trọng hơn là anh có thực sự đam mê và trân trọng cái anh đam mê không. Nếu không đi chuyên sâu thì không hiểu được. Phải gặp được danh sư (còn gọi là chân sư đích thực), phải được truyền dạy để hiểu thấu đáo. Phải toàn tâm toàn ý, nếu học chỉ để dùng ngay thì chỉ là học cái ngọn hay một vài kỹ thuật đánh đấm, làm sao hiểu được cái cốt lõi, tinh hoa của võ đạo? Như để hiểu được “tâm ứng thủ” phải là cả một quá trình rèn luyện, phải được thầy chỉ dạy đến nơi đến chốn, rồi “bắt địch theo ta”… phải đạt tới tinh hoa trong chiến đấu.

– Thưa ông, trong Vĩnh Xuân quyền có khái niệm “vô chiêu thắng hữu chiêu”?

– Phải hiểu thế nào là “tâm ứng thủ”, đứng trước đối thủ, làm sao biết đối thủ dùng chiêu thức như thế nào, dùng thế tay hay thế chân nào? Phải có một quá trình luyện tập công phu thì chỉ cần nghĩ tới động tác, chiêu thức thì ngay lập tức chân, tay sẽ thực hiện những đòn thế chính xác, thành công. Ngoài khổ luyện thì có 3 cấp, đúng hơn là 3 hệ: Hệ chiến đấu – hệ giao đấu – hệ biểu diễn. Cũng như đẳng cấp trong võ thuật có 3 cấp: Võ biền, võ thuật và võ đạo. Đạt tới võ đạo là đạt tới tinh hoa của triết lý sống…

– Các lò võ Vĩnh Xuân quyền ở ta hiện nay có nhiều lò tuân theo “cái gốc” căn bản của nó không, thưa ông?

– Cây có 1 gốc, nhưng có nhiều nhánh, 1 nhánh sinh ra nhiều cành. Ở ta, nhiều lò, ngay cả thầy dạy cũng chưa nắm được gốc cơ bản, toàn là cóp nhặt ba cái chiết chiêu. Đến “bát thủ pháp” – thầy dạy còn chưa biết. “Manh sư” thì nhiều, danh sư thì ít… cái đó thật đáng buồn! Như “Tiểu hình luyện thủ” là bài quyền của Vĩnh Xuân, các môn sinh mới nhập môn đều phải tập bài đó để luyện tay. Thủ ở đây là tay, không phải là phòng thủ, đánh thì đỡ, gạt, thủ sau thì công. “Đầu bất chính, thì chung sinh bất chính” – cái đầu tiên đã sai thì dù có khổ luyện, cả hệ thống về sau đều sai. Ngoài những chiêu thức, kỹ thuật mà sư phụ từng dạy tôi, người còn truyền lại rất kỹ cho tôi cả về khẩu quyết và tâm pháp…

Vĩnh Xuân quyền còn đi vào thơ ca: “Đôi tay Vĩnh Xuân như hai dải lụa hồng, đánh cho địch thủ như con thuyền say sóng/ Ta theo địch như hình với bóng/ Địch theo ta như vực sâu thăm thẳm”…

(Nói đến đây, võ sư Nguyễn Châu Phong dắt cậu con trai đang ở tuổi trưởng thành của ông ra tập cho chúng tôi xem. Lẹ làng, khoan thai mà dũng mãnh, những đòn đánh biến ảo khôn lường, chỉ có điều ông “tua” thật chậm để chúng tôi nhìn ra được đòn thế).
Vĩnh Xuân_ChauPhong(2)
Võ sư Nguyễn Châu Phong nói tiếp:

Vĩnh Xuân quyền nhu nhưng không nhược, cương mà không cứng. Cứng mà bẻ không gãy. Mềm mà không nắn được. Để đạt tới công phu đôi tay, học cả đời chưa hết, vì thế Vĩnh Xuân quyền ít dùng chân, vì tay mà đã lợi hại như thế thì dùng chân còn lợi hại đến đâu. Thực tế cước pháp Vịnh Xuân rất phong phú, bao gồm cả những chiêu thức dùng chân ở tầm cực thấp với những đòn chấn khớp có uy lực khủng khiếp và những chiêu thức đánh vào sự thăng bằng của đối thủ. Tuy nhiên, do nguyên tắc “túc bất ly địa” (chân không rời khỏi mặt đất) của Vĩnh Xuân, cước pháp Vĩnh Xuân chỉ truyền dạy cho học trò cao cấp, sau khi môn sinh đã luyện tập tốt sự thăng bằng và có sự phối hợp với thủ pháp nhuần nhuyễn. Chưa kể, vũ khí của Vĩnh Xuân quyền còn có “Bát trảm đao”, “Lục điểm bán côn”. Đã học phải học cho đủ, cho thấu đáo, sau này tùy vào hoàn cảnh nào, gặp cái gì thì dùng cái đó.

Câu chuyện với võ sư Nguyễn Châu Phong thật thú vị, ông nói với chúng tôi không chỉ là võ thuật mà còn là triết học, là sự cân bằng âm dương hiểu sao cho đúng, là sự vi diệu của võ đạo mà ông đã ngộ được. Cũng vì thế mà khi được hỏi về những lần ra đòn chiến đấu của ông, Võ sư Nguyễn Châu Phong chỉ cười, không nói…

Với Vĩnh Xuân quyền, phải nắm vững được những kỹ thuật như bát tượng: Nâng, tỳ, vít, đẩy, chấn, triệt, lôi, đả; hay Ngũ hình quyền biểu hiện 5 ngũ tính: Cương, nhu, dũng, trí, tĩnh. Ngũ tính của con người luân chuyển theo các ảnh hưởng tác động ngoại lai, có lúc rất cương trực, có lúc rất mềm mại… như 5 con vật long, hổ, báo, xà, hạc… Luyện võ là để lấy cái dũng, để chế ngự và tiêu diệt sự nhút nhát bản năng của con người, giữ được sự điềm đạm và sáng suốt khi gặp nguy hiểm, để có những giải pháp phù hợp trong tất cả mọi việc của cuộc sống thường ngày, chứ không phải là lấy việc đánh đấm hơn thua làm thước đo thành quả.

Nguồn: Báo Lao Động Online
http://laodong.com.vn/lao-dong-hang-ngay/dat-toi-vo-dao-la-dat-toi-tinh-hoa-cua-triet-ly-song-109611.bld

Đôi tay Vĩnh Xuân Quyền

Đôi tay Vĩnh Xuân

Đôi tay Vĩnh Xuân

Chúng ta thử xem qua hệ thống quyền pháp của Vĩnh Xuân Quyền sẽ rõ. Đó là một công việc khổ luyện gần như cả đời người để thu thập và ứng dụng một cách thích hợp mỗi động tác và sự kết hợp kỳ diệu của mỗi đòn tay. Nó có điểm khác biệt cơ bản là không nhất thiết phải thuộc lòng các chiêu thức chiến đấu như một số môn phái khác. Đồng thời có sự phân giải về các chiêu thức một cách hòa hợp, ăn khớp như một số người quan niệm biểu đồng tình.

Có những người cho rằng quyền Vĩnh Xuân đơn giản và thực dụng nhất. Điều đó, ở một góc độ nào đó, có thể xem như đúng. Bởi vì suy cho cùng “bát môn pháp” cũng có thể bắt nguồn từ ba tay : Tán thủ, Phục thủ và Bàng thủ (Ngửa bàn tay, Úp bàn tay, và Đưa khuỷu tay). Ba tay quyền căn bản này bao quát cả trăm ngàn thế tinh hoa biến hóa của quyền Vĩnh Xuân.

Theo thường lệ, tất cả quyền thuật Trung Hoa đều dùng một phương pháp cổ truyền và duy nhất là đánh và đỡ. Khi đối phương dùng quyền đánh ta, thì ta dùng một cánh tay để đỡ và dùng một cánh tay khác để đánh lại đối phương, hoặc dùng chân để phản công đối phương.

Theo thứ tự, thì dù ta đỡ bằng tay hay chân, đều đứng sau cái thể công (đánh hoặc đá của địch). Vả lại, cái đánh trả với cái đỡ không thể nào làm cùng một lúc được : nghĩa là phải dùng cả hai tay, một tay đỡ và tay khác đánh lại.

Nhưng quyền Vĩnh Xuân thì khác hẳn. Nếu đối phương dùng quyền tay hay dùng đòn chân đánh hoặc đá ta, thì hễ ai đã tập quyền Vĩnh Xuân thì đều hiểu rằng : Hễ quyền hay cước của địch bị ta tiếp được (có nghĩa là thu hút được), thì tức khắc ta chỉ dùng một tay hay một chân đánh lại, vì quyền Vĩnh Xuân làm tiêu tan các thế công bằng một kỹ thuật đặc biệt, và đó cũng là đòn phản công tức khắc.Đó là chỗ tuyệt diệu của quyền pháp Vĩnh Xuân.

Cho nên, quyền pháp Vĩnh Xuân có câu “Đả thủ tức vi Tiêu thủ”, ý nói tay đánh tức là tay giải (Giải là làm tiêu tan cái thế công của địch).

Còn có một câu khẩu quyết là : “Thủ lưu trung”, nghĩa là hai tay lúc nào cũng để trước giữa ngực (Cả trên, dưới). Khi ta ra tay đánh địch đều do trung lộ tiến đi (tức là hai cánh tay một quyền, một chưởng). Bao giờ cũng làm thành một hình trung tâm điểm để phòng ngự đầu và toàn thân. Dù địch mau lẹ và cường mạnh đến đâu, ta đều có thể làm cho đôi tay của địch lúc nào cũng ở ngoài tay phòng ngự của ta. Như vậy ta chiếm thế thượng phong, có ngay ưu thế dù là công hay thủ. Cho nên quyền Vĩnh Xuân đánh ra thì thành xung quyền hình chữ nhật do tâm tạng (ở giữa ngực) xuất phát đường kinh tuyến, thẳng một mặt tiến đánh đối phương, tựa như chạy theo đường cung huyền (như dây cung bật ra).

Nếu địch dùng quyền đánh, ta dùng lối quyền “ném” hay lối quyền “câu”, còn gọi là quyền dây cung. Dù so sánh quyền pháp giữa các môn phái khác, xuất phát từ hai bên eo với xung quyền hình chữ nhật của Vĩnh Xuân thì quyền Vĩnh Xuân vẫn dài hơn. Đó là nguyên nhân tại sao quyền Vĩnh Xuân phát xuất từ trước ngực.

Người ta thường dùng cây cung và thân cây cung để ví với tay quyền Vĩnh Xuân, ta cũng có thể dùng cây mây để làm ví dụ. Khi một lực tấn công phía trước, ta có thể dùng tay ngửa, tay úp hay chìa khuỷu tay (tán, phục, bàng thủ) khiến cho địch thủ có cảm tưởng như đánh vào một cây mây bị áp lực ảnh hưởng, cong vào một bên; đến khi quyền địch thủ để lộ ra khuyết điểm (nơi trống, tiện tấn công)thì quyền Vĩnh Xuân như thanh mây bật ngược lại xung thẳng vào đối phương với sức mạnh vô cùng.

Do đó, trong môn phái Vĩnh Xuân có một câu truyền khẩu “Lai lưu khứ tống, thoát thủ trực xung” (Tới thì giữ, đi thì đưa, duỗi hoặc rời tay thì tiến tới).

“Đó là phương pháp sử dụng các thế Na, Phục, Bàng… Tuyệt không bao giờ hất ngang hay lắc qua hai bên trái hay mặt. Đưa là đưa sang phía trước, xung cũng là xung ra phía trước. Còn tay lưu chỉ để tiếp đón hay chận đứng quyền của địch. Không cần dùng đến sức khỏe mà có thể đẩy được địch qua một bên”.

Chính vì chỗ sâu diệu này mà Võ sĩ Lý Tiểu Long sau khi đã học với Diệp Vấn tiên sinh, đã lãnh hội tinh túy của công phu quyền pháp Vĩnh Xuân, nên đã cho ra đời môn Triệt Quyền Đạo (có thể tạm tóm tắt là con đường ngắn nhất để biến thủ thành công, hoặc công thủ không phân biệt, hoặc nôm na hơn: đỡ tức là đánh).

Ngoài quyền pháp sâu diệu, người học Vĩnh Xuân quyền còn phải luyện khí công để chủ động được kình lực của mình. Kình phải lấy gân làm gốc, có đàn tính, hoạt tính. Tập khí công nội công, chuyển động đường gân, uyển lực phát triển, lấy khí dẫn lực… chủ động gân cốt, phát triển được kình. Lực phá hủy bên ngoài, kình phá hủy bên trong. Việc phóng kình như bắn một mũi tên. Kình có thể tụ vào đầu ngón tay, phóng với tốc độ nhanh có thể phá hủy các bộ phận bên trong. Đó mới thực sự là sự công phá. Khi một người phóng kình đúng, các đầu ngón tay sẽ rung bật lên. Đó là dấu hiệu công lực của mỗi người. Môn công phu đỉnh cao của kình lực chính là nhất dương chỉ vậy.

Nguồn: VS. Thi Đạt Chí, Trích Tân Võ học – xuất bản tại Hồng Kông số 72/1972

Phương pháp luyện tập của một số chi phái Vĩnh Xuân Việt Nam

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 33 other followers

%d bloggers like this: