11 NGỘ NHẬN TRONG LUYỆN TẬP THÁI CỰC QUYỀN

Thiết nghĩ những điều ngộ nhận này không chỉ ở trong môn Thái Cực Quyền, mà ở tất cả các môn võ trong đó có môn Vĩnh Xuân Quyền. Luyện võ có luyện cương có luyện nhu, có luyện động có luyện tĩnh, có luyện nhanh có luyện chậm, có luyện trong có luyện ngoài …Muốn hiểu đúng về võ thuật phải chuyên cần luyện tập, và không ngừng trau dồi kiến thức để tránh những ngộ nhận đáng tiếc như “11 điều ngộ nhận trong luyện tập Thái Cực Quyền” dưới đây.

taichichuen

Truyền thống Thái cực quyền thuật của Trung quốc  là bộ phận trọng yếu trong văn hóa võ thuật truyền thống của Trung quốc, Thái cực quyền  nổi tiếng thiên hạ về thuật đánh nhau cao siêu phồn tạp, ảo diệu vô cùng và nội hàm triết học thâm ảo, trong lịch sử không thiếu cao nhân, nhưng hiện tại nhiều người có nhiều ngộ nhận trong nhận thức đối với Thái cực quyền. Để người yêu thích Thái cực quyền  có nhận thức đúng đắn, tôi mạo muội đem 11 điều ngộ nhận trình bày dưới đây:

1) Ngộ nhận thứ 1: coi “Thái cực thao” lưu hành rộng rãi thành Thái cực quyền, làm cho nhiều người ngộ nhận về Thái cực quyền. Bạn thấy nhiều người già luyện “Thái cực thao” ở công viên, họ có thể thực chiến? Từ đó suy ra: Thái cực quyền  không thể thực chiến. Kỳ thực, trước tiên cần phân biệt Thái cực quyền  và Thái cực thao. Thái cực quyền chân chính tồn tại nơi thiểu số truyền nhân của các lưu phái. Do Thái cực quyền có thuật cao siêu, lý luận tương đối thâm ảo, nên rất ít truyền nhân đạt được chân truyền.

2)  Ngộ nhận thứ 2: rất nhiều người coi Thái cực quyền  chỉ là bàn giá tử và thôi thủ, họ tưởng thông qua luyện bàn giá tử, thôi thủ đạt được mục đích trở thành cao thủ Thái cực quyền. Có người dùng tinh lực cả đời nhất tâm chuyên chú vào đạo này, kết quả luyện đến lão là hao tốn tinh lực vô ích. Không biết rằng Thái cực quyền truyền thống có rất nhiều phương pháp huấn luyện!

3) Ngộ nhận thứ 3: rất nhiều người chỉ có thể triêm trứ đả, do giảng đả pháp “triêm”, “niêm”, “liên”, “tùy”, chỉ trong trạng thái “Triêm” mới có thể phát huy uy lực của Thái cực quyền, vì thế một số người gọi “Thái cực quyền ” là “Lại quyền”, ý là “Sái lại bì” (quyền đùa giỡn hoắc chơi xỏ ngoài da), không phải là chân công phu. Kỳ thực không phải vậy, trong thực chiến biến hóa vạn thiên, há có thể cùng đối thủ niêm dính? Họ không biết Thái cực quyền truyền thống giảng đả pháp “Y bất triêm y, thủ bất đáp thủ, nhĩ đả ngã, ngã đả nhĩ, nhất chiêu kiến thâu doanh” (Tạm dịch: áo không chạm áo, tay không chạm tay, người đánh ta, ta đánh người, một chiêu là biết thắng thua). Năng triêm trứ đả, cố nhiên là tốt, có thể phát huy thế mạnh của Thái cực quyền, khi không thể triêm tại sao cần triêm? Chẳng lẽ thế mạnh của Thái cực quyền chỉ có triêm, niêm, liên, tùy sao?

4) Ngộ nhận thứ 4: hiểu sai “Tích nhu thành cương”, lý luận tích nhu thành cương bản thân không sai, vấn đề là lý giải bất đồng. Có người cả đời nhu, mà không thấy “cương” là gì, luyện vài chục năm Thái cực quyền nhu nhuyễn, mà không tích xuất được cương kình, vì sao vậy? Kỳ thực quan trọng là lý giải “nhu”, vậy thì “nhu” là thế nào? Kỳ thực nhu tịnh không thể giản đơn lý giải thành “nhuyễn”, Trương Thiệu Đường tiên sinh nói “Nhuyễn là lỏng lẻo, không phải là nhu, đè một cái thì méo, không linh động quay về”. Chân chính nhu giàu tính đàn hồi, mà nhuyễn thì ngạnh…

5) Ngộ nhận thứ 5: hiểu sai “tùng”; một số người luyện tập Thái cực quyền cho rằng “Luyện Thái cực quyền  chính là không sử kình, bất dụng lực”, nhất mực cầu “tùng”, truy cầu “đại tùng đại nhu”, nhưng không biết tùng là để làm gì, kết quả luyện cả đời, luyện thành một loại “Hi tùng Thái cực quyền” (tạm dịch: Thái cực quyền cẩu thả) , căn bản không dùng được trong thực chiến, thật đáng tiếc! Kỳ thực luyện tập Thái cực quyền  phóng tùng là chính xác, phóng tùng để khí huyết lưu thông, khí huyết lưu thông thì có thể đạt tới hiệu quả “Lực tự trầm trọng”. Người tập Thái cực quyền có công phu, thì cánh tay không dụng lực mà vô cùng trầm trọng, chính là đạo lý này, nguyên lý của Thái cực quyền là có cơ sở triết học, hữu “tùng” thì tất nhiên hữu “khẩn”, hữu”nhu” thì tất nhiên hữu “cương”, cái gọi là “Cô âm bất sinh, độc dương bất trường”. Có người đọc một quyển Thái cực quyền, coi như hiểu được đạo lý của Thái cực quyền, còn vẫn không đạt tới “tùng”, đã bắt đi truy cầu “không” . Kết quả là luyện tập lâu dài, ngoài động tác thuần thục, thì công phu “Không không như dã” .

6) Ngộ nhận thứ 6: liên quan tới phương thức hô hấp. Có người luyện tập Thái cực quyền thủy chung duy trì tự nhiên hô hấp coi là được rồi, kỳ thực là sai lầm lớn! Không biết rằng công phu Thái cực quyền  là phân tầng thứ. Người sơ luyện dùng tự nhiên hô hấp là hợp lý, nhưng công phu tới trình độ nhất định, nếu vẫn kiên trì tự nhiên hô hấp thì sai, luyện tập Thái cực quyền  như học sinh đọc sách, làm sao có thể cùng dùng một giáo án? Sơ luyện dùng tự nhiên hô hấp, sau một thời gian lâu dài luyện tập, công phu tiến bộ, phế hoạt lượng tăng gia, thì cần cùng động tác phối hợp súc phát, khai hợp – súc thì hấp khí, phát thì hô khí, tiểu phúc khởi phục là nghịch thức, tức hấp khí thời thu súc, hô khí thời cổ khởi – do đó nói là “Nghịch phúc thức hô hấp”, tùy theo công phu tăng tiến cùng sự tiền bộ trong tu luyện nội công, lâu ngày đạt đến “Hô hấp thông linh”, đồng thời đan điền nội sản sinh “Đan cầu” – “Đan cầu” tùy theo ý niệm và động tác mà chuyển động, có người gọi là “Đan điền nội chuyển” .

7)  Ngộ nhận thứ 7: có người nói Thái cực quyền  là vận động hình tròn, kỳ thực không hẳn, Thái cực quyền  không đơn giản như vậy, động tác của Thái cực quyền bao hàm nhiều động tác chuyển chiết lớn nhỏ, bên trong hàm chứa nhiều kỹ thuật tế nhị. Con người có nhiều quan tiết, trong động tác của Thái cực quyền, mọi quan tiết bộ vị của thân thể đều cần căn cứ nhu cầu mà chuyển quyển. Đại quyển bao trùm tiểu quyển, phối hợp cao độ, gọi là “Loạn hoàn pháp”, không hiểu điều điều đó, thì trong thực chiến không thể nhu hóa lực của đối phương, đem Thái cực quyền  luyện thành “Thái cực thao”, dù khổ luyện một đời cũng là uổng phí. Nắm chắc loạn hoàn pháp thì có thể hóa giải lực của đối phương trong vô hình.

8)  Ngộ nhận thứ 8: trong tác phẩm kinh điển 《 Thái cực quyền  luận 》 , Vương Tông Nhạc tiên sư đề cập tới sự nguy hại của “Song trọng chi bệnh”. Có người giải thích sai, thậm chí đem trọng  giải thích thành trùng, mà không biết “song trọng” và “thiên trầm” là quan hệ đối ứng. Lại có đương kim Thái cực quyền  danh gia, trong văn chương giải thích đạo lý rõ ràng, lưu loát, trường thiên đại luận, thế nhưng xem biểu diễn Thái cực quyền  quyền giá từ đầu đến cuối vẫn là song trọng giá tử! Kỳ thực, bệnh  song trọng rất đơn giản, các bộ phận thân thể con người có kết cấu đối xứng, luyện tập Thái cực quyền  âm dương bất phân chính là song trọng, phân ra âm dương tất nhiên là một bên thiên trầm, một bên thiên khinh, do đó nói rằng thiên khinh không phải bệnh. “Song trọng tắc trệ, thiên trầm tắc linh”, người mà luyện tập một số năm vẫn không thể vận hóa do đâu? Do bệnh song trọng chưa ngộ! Có thể thấy tránh bệnh song trọng là tối quan trọng trong luyện tập Thái cực quyền. Tránh bệnh song trọng không thể chỉ ở ngoài miệng và trong văn tự, cần thể hiện trong Thái cực quyền quyền giá.

9) Ngộ nhận thứ 9: nội gia quyền nhấn mạnh dĩ tĩnh chế động, hậu phát chế nhân.  Thái cực quyền  là nội gia quyền, diễn luyện và thực chiến đều tao nhã, luyện Thái cực quyền  như hành vân lưu thủy, thần nhàn khí định, lại chú trọng khí thế. Đó là sai lầm lớn! Nội gia quyền mạnh ở dĩ tĩnh chế động, hậu phát chế nhân không sai, nhưng cũng có thể tiên phát chế nhân, dĩ động chế tĩnh, nên có văn giá hành vân lưu thủy, cũng có vũ giá như long trời lở đất, động tĩnh tương kiêm, khoái mạn tương gian, cương nhu tương tể. Vũ giá Thái cực quyền  rất chú trọng khí thế, nhất lộ nhãn thần, kháp dục nhiếp hồn phách địch, đoạt thần loạn chí. Trước đây thường nói cao thủ tỉ vũ, song phương mục quang đối nhau, chiếu diện, thắng phụ đã định, chính là vậy. Bạn xem ở công viên đa số chỉ cầu kiện thân mà ngày ngày luyện Thái cực thao mềm mại, muốn có khí thế, có thể không?

10) Ngộ nhận thứ 10: trong sách của danh gia nào đó, ông này, ông kia theo Dương Lộ Thiền tiên sinh học quyền, các học trò đạt được một phần của tiên sinh, ông này thiện nhu hóa, ông kia thiện cương phát. Kỳ thực, như vậy là vô ý hạ thấp ông này và ông kia. Thái cực quyền  là quyền pháp cương nhu tương tể, các ông đều là Thái cực quyền  đại sư, chẳng nhẽ chỉ được một phần? Luyện Thái cực quyền  chỉ thiện nhu hóa, khác gì người thường chỉ dùng một chân đi bộ, thật nực cười.

11) Ngộ nhận thứ 11: thường nghe nói “Thái cực thập niên bất xuất môn”, câu này đại sai! Thái cực quyền  kỹ thuật phức tạp, nhưng tuyệt phi thập niên bất xuất môn. Nếu có minh sư giáo hối, huấn luyện có hệ thống, bảo đảm thời gian luyện công, tự mình có ngộ tính, thì “Tam niên tiểu thành, ngũ niên đại thành” . Nên nói “Thái cực thập niên bất xuất môn” thực là ngộ nhận! Giả như có một số người theo “danh sư” khổ luyện mười năm, không đạt  chân công phu, thế thì “Thái cực thập niên bất xuất môn” thành cái cớ tốt nhất. Câu này hại không ít người! Làm cho bao người ngộ nhận.

Nguồn: www.thaicucquyen.com
Biên dịch: Nguyễn Hoàng Quân

Quách Phú một trong Thất đại đệ tử của Sư phụ Diệp Vấn

Sau khi trở về Phật Sơn sau thế chiến thứ II, Diệp Vấn đã truyền dạy Vịnh Xuân cho các đệ tử, bạn bè và họ hàng dù không chính thức mở võ đường. Một số đệ tử thành danh của ông giai đoạn này có Lạc Diêu, Chu Quang Dụ, Quách Phú, Luân Giai, Trần Chí Tân và Lã Ưng. Trong số đó, Chu Quang Dụ xem là người xuất sắc nhất, nhưng cuối cùng anh đi theo con đường kinh doanh và dừng luyện võ.

Quách Phú và Luân Giai tiếp tục dạy võ và truyền bá Vịnh Xuân quyền ở Phật Sơn và vùng Quảng Đông. Trần Chí Tân và Lã Ưng sau này đến sống tại Hồng Kông và không nhận bất cứ một đệ tử nào.

Sư phụ Quách Phù

Sư phụ Quách Phú

Năm 1940, có một cậu bé 18 tuổi kiên trì 3 lần đến nhà Diệp Vấn xin bái sư học nghệ. Sở dĩ việc được chấp thuận diễn ra khó khăn như thế là bởi Diệp sư phụ ngại tuổi tác cậu cũng hơi lớn, khó có thể dạy dỗ thành tài.

Tuy nhiên, do sự kiên trì quá mức, cuối cùng cậu cũng được chấp thuận, trở thành môn đồ thứ 7 của Diệp Vấn, người đó chính là Quách Phú.

Quách Phú sinh năm 1921 tại Quảng Đông (Trung Quốc) trong một gia đình nông dân nghèo. Bởi vậy nên ông phải ra ngoài làm việc từ rất sớm, năm 15 tuổi đã ra nhà kiếm việc làm.

Vào khoảng năm 1940 khi đang là người học việc tại một tiệm kẹo trên đường Vĩnh An, Phật Sơn, Quách Phú phát hiện tại cửa hàng bông vải sát bên, Nhất đại tông sư Diệp Vấn đang bí mật dạy Vịnh Xuân Quyền cho 6 môn đồ.

Vốn là người đam mê võ thuật, hơn nữa thời đó lại rộ lên phong trào học võ bởi quân Nhật Bản đang dần tiến vào nhiễu loạn Phật Sơn nên ai cũng muốn có chút gì đó phòng thân.

Chàng trai họ Quách thời đó cũng không ngoại lệ, đã bị cuốn hút vào phong thái cùng những đòn đánh của Diệp sư phụ. Qúa mức mê mẩn, anh lập tức xin được làm học trò của ông.

Nhưng trái với sự mong chờ, ông nhìn chàng thanh niên đứng tuổi và kiên quyết từ chối. Không hề nản lòng, Quách Phú kiên quyết 3 lần đến cửa, xin học võ bằng được.

Nhận thấy sự quyết tâm quá lớn từ cậu trai trẻ tuổi, Diệp sư phụ nhận lời thu nạp thêm đệ tử thứ bảy.

Ngay ngày đầu tiên vào phòng luyện công, Diệp sư phụ đã cho anh giao đấu với các môn sinh khác để xem phản ứng, phản xạ, sở trường, sở đoản…

“Hầu như ngày nào tôi cũng bị đánh te tua. Nhưng cứ sau mỗi lần thì tôi càng lưu ý đến chiêu thuật và thế công thế thủ của đối phương để phản ứng hiệu quả”- Quách Phú kể lại.

Mặc dù tuổi tác không nhỏ, nhưng Diệp Vấn sớm đã nhìn ra tố chất ở cậu học trò thứ 7. Chỉ sau 3 năm, ông đã nắm vững tâm pháp Vịnh Xuân Quyền mà sư phụ cố công truyền thụ.

Năm 1945, Phật Sơn sụp đổ, võ đường buộc phải đóng cửa, Quách Phú phải bỏ về quê.

Tuy nhiên, Diệp sư phụ biết được khả năng của đệ tử, không quản ngại đường sá, thường đi bộ hàng chục cây số đến nhà anh ở Hạ Giáo Bảo để chỉ bảo riêng. Tiếp tục truyền thụ 2 năm nữa Vịnh Xuân cho họ Quách.

Đến sau đó, chính ông cũng phải thừa nhận rằng, dù gia nhập muộn nhưng khả năng của Quách Phú là nổi bật nhất. Cuối cùng, ông là người đứng đầu “Thất đại đệ tử” của Diệp Vấn, sở hữu võ công cao cường nhất.

Diệp Vấn và học trò

Diệp Vấn và học trò

Cao thủ ẩn dật

Khả năng Vịnh Xuân của vị đứng đầu “Thất đại đệ tử” này chẳng phải là danh bất hư truyền.

Sở hữu võ công cao cường song Quách Phú sống rất ẩn dật. Lần thượng đài duy nhất của ông là vào năm 30 tuổi, tuy chỉ một lần nhưng danh tiếng và sự kinh động của nó khiến người ta không thể nào quên.

Năm đó, sư phụ Diệp Vấn đã sang Hồng Kông, họ Quách vẫn tiếp tục ở lại Phật Sơn trông coi võ đường của sư phụ. Có một cao thủ đương thời nghe phong thanh danh tiếng đệ tử Diệp Vấn của ông mà liên tục tìm đến cửa khiêu chiến 3 ngày.

Ngại ồn ào, Quách Phú buộc phải nhận lời. Hai bên giao thủ qua 14 chiêu vị quyền sư kia không thể nào nhập sát vào để ra đòn được. Hơn thế còn bị Quách phát một ngón Đàn thủ khiến người bật ra sau đến chục bước, bèn xấu hổ cáo từ. Từ đó Quách Phú nổi danh ở hai vùng Quảng Châu và Phật Sơn.

Tuy nhiên, nhìn bề ngoài không ai nghĩ đó là một cao thủ. Ông sống cực kì khiêm tốn, ẩn dật, nụ cười hiền lành và gương mặt nho nhã. Nhưng nếu nhìn kĩ, cước bộ của họ Quách luôn nhẹ nhàng, tâm thế ung dung hành động dứt khoát.

Đến khi đã hơn 90 tuổi, Quách Phú vẫn trông tráng kiện, hai mắt phát thần quang, kình lực phát thủ còn rất mạnh mẽ, khiến người ta e ngại.

Lại có chuyện kể lại rằng, Diệp Vấn từng trao bí kíp quyền phổ và sách thuốc của mình cho Quách Phú sao chép.

Theo truyền thống trong giới võ lâm thì quyền phổ không dễ gì trao cho người khác. Diệp Vấn làm như vậy là muốn truyền y bát Vịnh Xuân quyền cho Quách Phú.

Quách Phú tiết lộ rằng bí kíp quyền phổ trên gọi là “Vịnh Xuân quyền bí bản”, ngoài việc ghi chép tường tận 116 thức của bản môn còn có một phần rất quan trọng về điểm huyệt, gọi là “Điểm mạch pháp” hay “Đả mạch pháp”.

Loại công phu này rất hiểm, chỉ có người đạt được công lực thượng thừa và có võ đức mới nên luyện và vạn bất đắc dĩ mới sử dụng. “Sư phụ lúc sắp rời Phật Sơn đi Hồng Kông mới truyền thụ công phu này cho tôi”. – Quách Phú từng chia sẻ.

Hơn 60 năm không còn nhìn thấy mặt sư phụ, nhưng Quách Phú vẫn nhớ lại từng giây phút được ông dạy bảo : “Ông ấy rất bình tĩnh, luôn trầm ổn và sống rất quân tử. Đó thực sự là một con người vĩ đại”.

Trong suốt thời gian của mình, Diệp Vấn đã thu nhận hàng trăm đệ tử. Trong đó có những người nổi tiếng, thành danh như Lý Tiểu Long, Trương Trác Khánh.

Nhưng trước lúc qua đời, lời dặn của ông lại hướng về Quách Phú: “Sau này nếu ai muốn học công phu Vịnh Xuân chính tông thì hãy đến Phật Sơn, tìm Quách Phú”.

Quách thị Vịnh Xuân Quyền

Quách thị Vịnh Xuân Quyền

Trong nhiều năm qua, nhớ lời dạy của sư phụ, họ Quách rất tích cực chỉ điểm, dạy dỗ cho học trò mà chẳng thu lấy 1 đồng học phí. Bởi Diệp Vấn cùng dạy miễn phí cho ông, cớ gì ông lại thu tiền học trò.

Hiện nay, Tại khu Nam Hải, Bình Châu, TP Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông có một ngôi nhà cổ, trên biển đề “Quách thị Vịnh Xuân quyền hội”.

Đây chính là nơi ẩn cư của đại sư Quách Phú, trong nhà vẫn treo tranh ảnh của Diệp Vấn, sư phụ mà ông tôn kính suốt đời.

Nguồn: theo Tri Thức Trẻ

Vĩnh xuân môn võ nội gia quyền

Con đường Vĩnh Xuân

Vĩnh Xuân sẽ thực sự là một môn võ đầy sức mạnh khi được luyện tập theo đường lối của một môn nội gia quyền. Tuy nhiên, nó thường được dạy như là một môn ngoại gia, chỉ có một số ít chỗ truyền dạy môn võ này theo phong cách nội gia.

Với một người bắt đầu học Vĩnh Xuân theo phong cách ngoại gia, họ sẽ học cách chặn các đòn tấn công với than thủ hay bàng thủ. Họ sẽ được dạy cách dùng từng kỹ thuật trong từng tình huống cụ thể. Họ được người hướng dẫn đưa cho một danh sách các kỹ năng, và luyện tập chúng liên tục.

Còn để có thể tập trung vào tính chất nội gia của môn võ này, thì người tập cần phải nghiên cứu sâu về các kỹ năng. Họ cần cảm nhận cơ thể mình, và nhận thức rõ các bộ phận khác nhau. Họ cần học cách thư giãn, thư giãn đến mức mà họ có thể cảm nhận khớp xương của mình di chuyển. Đó mới là phong cách nội gia, nó giúp người tập khám phá cơ thể của mình, khám phá cách cơ thể vận động và tạo ra một thứ sức mạnh khủng khiếp.

Bạn cần phải cảm nhận được cơ thể mình, trước khi bạn có thể kết nối toàn thân với nhau và sử dụng nó để phóng ra một lực khủng khiếp. Vĩnh Xuân nếu không được tập theo đường lối nội gia thì sẽ là một môn võ rất yếu thế (dẫn đến việc phải kết hợp thêm kỹ thuật của môn khác). Bàng thủ là một tư thế rất yếu. Việc tung quyền liên tiếp cũng dễ bị hóa giải và các thế tay thì trông khá vụng về. Các cú đấm có đường quyền ngắn, và chỉ có những người to lớn mới có thể phát ra sức mạnh với những cú đấm như thế.

Nếu một người rèn luyện cơ thể theo phong cách nội gia, họ có thể thư giãn và kết nối các bộ phận cơ thể lại với nhau. Thử nghĩ xem ai có thể đấm mạnh hơn, một người đàn ông to con với cánh tay nặng 40 ký, hay một người phụ nữ nặng 40 ký mà có thể dồn hết trọng lượng của mình vào cú đấm? Với tôi, thì điều thú vị là người có khả năng kết nối các bộ phận trên cơ thể sẽ là người có cú đấm tốt hơn.

Với cách luyện tập ngoại gia, hay các phái cương, thì để tăng cường sức mạnh họ cần phải rèn luyện thể chất rất nhiều. Nhưng với những người luyện Vĩnh Xuân theo phong cách nội gia thì lại khác. Việc luyện tập thể chất có thể gây trở ngại cho việc thư giãn. Sự căng thẳng trong cơ thể sẽ làm giảm khả năng kết nối và tách biệt các khối cơ riêng rẽ với nhau thay vì thống nhất chúng lại thành một thể thống nhất.

Với một người luyện Vĩnh Xuân nội gia, việc rèn luyện với các bài tập, và niêm thủ là cách để tăng cường sức mạnh. Sức mạnh đó không hẳn là sức mạnh theo nghĩa sức mạnh thể chất, mà người tập sẽ có cảm giác thần thái của mình mạnh mẽ hơn người khác. Nếu được, các bạn hãy tìm hiểu về sư phụ Từ Thượng Điền (Chu Shong Tin). Người đàn ông này hiện đã 80 tuổi, và nếu bạn thấy những gì ông ấy có thể làm được, bạn sẽ đồng ý rằng ông ấy rất mạnh mẽ.

Với tôi, ông ấy là hiện thân của 2 tiếng Vĩnh Xuân. Ông ấy đã già và khá là nhỏ nhắn (60kg), nhưng vẫn có thể phóng ra một sức mạnh mà tôi hiếm thấy ở người khác. Điều này cũng khá là phù hợp với truyền thuyết về việc Vĩnh Xuân đã được phụ nữ sáng tạo ra.

Vĩnh Xuân chân chính cần phải được luyện theo phong cách của nội gia quyền, nếu không thì nguồn gốc và tâm pháp của nó sẽ trở thành những lý thuyết vô lý. Một khi người tập đạt được nội lực, và sử dụng tâm trí để tập trung năng lượng, họ sẽ đạt đến sức mạnh thực sự của Vĩnh Xuân.

Tác giả: Phillip Warburton
Nguồn: Wingchunspirit

Vĩnh Xuân Nguyễn Tế Vân

Đại sư Nguyễn Tế Công luyện mộc nhân

Đại sư Nguyễn Tế Công luyện mộc nhân

Nguyễn Tế Vân (Yuen Chai Wan, 1877-1960) là anh trai của quyền sư Vịnh Xuân quyền nổi tiếng Nguyễn Kỳ Sơn (Yuen Kay Shan, 1889-1956), con trai của thương gia Nguyễn Long Minh – có xưởng pháo hoa ở Phật Sơn. Ông thường được biết với tên Nguyễn Lão Tứ. Khi còn nhỏ ông bị thủy đầu để lại sẹo vĩnh viễn trên mặc nên ông có biệt danh “đậu bì Tế”.

Đầu tiên Nguyễn Tế Vân cùng em trai học Vịnh Xuân quyền từ quan án sát Khâm Châu Hoắc Bảo Toàn (Phổ Bá Quyền), giỏi về đao pháp nên có biệt danh là “Hoắc song đao”, là truyền nhân của Vịnh Xuân Xà Hình Hoàng Hoa Bảo và Chí Thiện Vĩnh Xuân Đại Hoa Diện Cẩm trên Hồng Thuyền. Sau khi học được nhiều năm, họ đã làm chủ được các bài quyền, mộc nhân, phi tiêu, đao, côn và kỹ năng thiết thủ (một biến thể của Thiết sa chưởng). Đến khoảng năm 1933, họ mời đồng môn của Hoắc Bảo Toàn là Phùng Thiếu Thanh (khoảng 1863-1936), truyền nhân của Tân Cẩm (Đại Hoa Diện Cẩm) – từng là bộ đầu ở Phật Sơn hoặc cận vệ của thống đốc Tứ Xuyên – về nghỉ hưu tại gia đình và học Vĩnh Xuân quyền của Phùng Thiếu Thanh cho đến lúc ông qua đời vào năm 1936. Anh em Nguyễn Thái Vân đã chủ trì tổ chức tang lễ cho Phùng Thiếu Thanh.

Nguyễn Tế Vân cũng như em trai của mình, dạy rất ít đệ tử. Ở Phật Sơn, Diêu Tài (1890-1956) là đệ tử duy nhất của ông. Diêu Tài đã học Vĩnh Xuân quyền từ ông trong gần 15 năm. Sau đó, Nguyễn Tế Vân giới thiệu Diêu Tài đến học với Ngô Trọng Tố (1876-1970), đệ tử Trần Hoa Thuận. Trần Hoa Thuận là đệ tử của Vịnh Xuân quyền vương Lương Tán – truyền nhân của Hoàng Hoa Bảo và Lương Nhị Thái (truyền nhân Lục điểm bán côn của Chí Thiện).

Năm 1936, sau khi Phùng Thiếu Thanh mất, Nguyễn Tế Vân được mời dạy Vĩnh Xuân quyền cho hội thương gia người hoa ở Thuận Đức, Nam Hải và Việt Nam. Vì những lý do không rõ, Nguyễn Tế Vân đã chuyển đến Hà Nội, nơi ông được biết đến với tên Nguyễn Tế Công, tứ ông Nguyễn Tế.

Do cuộc sống khó khăn, Nguyễn Tế Vân đã phải mở một võ đường để kiếm sống. Hiện có rất nhiều hiểu lầm về danh tánh và nơi ở của ông. Một số câu truyện cho rằng ông đến Việt Nam để kinh doanh. Các đệ tử ở Việt Nam cũng cố gắng thêm vào lịch sử võ học của ông từng học Lương Tán, đây là điều không chính xác. Lai lịch và quá trình học võ của ông được xác định tại Vĩnh Xuân quyền Phật Sơn.

Có lẽ Nguyễn Tế Vân đã truyền thụ Vĩnh Xuân quyền theo 2 giáo trình riêng biệt ở Việt Nam. Ông truyền lại cho người Hoa cùng một giáo trình mà ông đã dạy Diêu Tài ở Phật Sơn, với sự bổ sung Lục điểm bán côn và Mộc nhân thung. Đối với đệ tử người Việt, dường như ông chỉ truyền dạy Tiểu niệm đầu, Mộc nhân thung và Lục điểm bán côn. Các thế hệ sau của đệ tử của ông có vẻ như đã được thêm vào một số lượng lớn các kỹ thuật quyền pháp không phải của Vĩnh Xuân quyền. Ngay cả việc thay đổi truyền khẩu về nguồn gốc dòng Vĩnh Xuân quyền của Nguyễn gia, truyền dần từ Ngũ Mai – Nghiêm Nhị – Lương Bác Trù xuống Hoàng Hoa Bảo, Lương Nhị Thái, Đại Hoa Diện Cẩm và La Vãn Cung.

Đến năm 1955, Nguyễn Tế Vân chuyển vào Sài Gòn, mở võ đường thứ 2 ở khu vực chợ Lớn. Ông đã đào tạo thêm các đệ tử Nguyễn Duy Hải (Hồ Hải Long), Ngô Sỹ Quý, Lục Viễn Khai và một số người khác. Nguyễn Tế Vân qua đời vào năm 1960 ở tuổi 84.

Hệ thống Vĩnh Xuân quyền của Nguyễn Tế Vân

Chương trình giảng dạy tại Phật Sơn:

  1. Tiểu niệm đầu (có thể là một bài quyền gồm 3 phần có chứa các kỹ thuật của 3 bài quyền cơ bản của Vịnh Xuân quyền),
  2. Trúc thung,
  3. Nhị tự kiềm dương đoạt mệnh đao,
  4. Bát thức tán đả Trúc thung
  5. Tản thức.

Chương trình cho người Hoa trong thời gian ở Việt Nam:

  1. Tiểu niệm đầu,
  2. Tản thức,
  3. 108 Mộc nhân thung,
  4. Nhị tự kiềm dương đoạt mệnh đao,
  5. Lục điểm bán côn,
  6. Khuyên thủ,
  7. Niêm thủ.

Diêu Kỳ cho rằng Diêu Tài đạy bài Tiểu niệm đầu giống như bài quyền của dòng Cho gia, một bài bao gồm: Tiểu niệm đầu, Tầm kiều và Biêu chỉ. Diêu Kỳ thuật lại rằng cha ông đã học từ Nguyễn Tế Vân trong vòng 15 năm, ông cũng đã học Tản thức, Trúc thung, Vòng xuyến và Nhị tự đao.

Thật khó để xác định xem đây là thông tin chính xác Diêu Kỳ liên quan hay không. Vì nó sẽ có vẻ rằng Nguyễn Tế Vân có kiến thức chính xác giống như em trai của ông, Nguyễn Kỳ Sơn, như họ đã học được cùng các sư phụ. Có thể Nguyễn Tế Vân bất đắc dĩ phải dạy Vĩnh Xuân quyền, cũng giống như em trai của mình, Nguyễn Kỳ Sơn, chỉ có 1 đệ tử là Sằm Năng.

Tại Sài Gòn, Nguyễn Tế Vân truyền dạy Mộc nhân thung thay vì Trúc thung. Ông cũng dạy Lục điểm bán côn. Một điều thú vị, nhận thấy bởi Viện nghiên cứu Vịnh Xuân quyền, đó là anh em họ Nguyễn chỉ có thể dạy đệ tử những gì họ đã học được từ sư phụ đầu tiên, Hoắc Bảo Toàn, lúc Nguyễn Tế Vân đang dạy Diêu Tài. Vào khoảng năm 1933, khi Phùng Thiếu Thanh chuyển vào sống tại nhà họ Nguyễn, họ mở rộng học hỏi thêm từ ông ấy. Nó có thể là 108 Mộc nhân thung và Lục điểm bán côn là tài liệu mà họ chưa được học cho đến khi gặp Phùng Thiếu Thanh. Do đó, Nguyễn Tế Vân không thể dạy những điều mà ông không nắm chắc về sau năm 1933.

Chương trình giảng dạy của đệ tử Việt Nam:

  1. Tiểu niệm đầu,
  2. Ngũ hình khí công,
  3. Tiểu mai hoa,
  4. Đại mai hoa,
  5. Hạc hình thủ bộ,
  6. Mộc nhân thung,
  7. Lục điểm bán côn,
  8. Kiếm pháp,
  9. Phi tiêu.

Đệ tử người Việt của Nguyễn Tế Vân (Nguyễn Tế Công) có một chương trình đào tạo hoàn toàn khác những gì Nguyễn Tế Vân dạy tại Phật Sơn hoặc với những gì ông đã dạy người Hoa tại Việt Nam. Các chương trình đào tạo khác nhau tại Việt Nam (trong đó cũng được cho là thay đổi từ Bắc vào Nam) có thể là kết quả của các đệ tử Nguyễn Tế Vân thêm vào trong tài liệu. Theo điều tra, các cơ chế được sử dụng trong rất nhiều các hình thức không phải xuất xứ từ Vĩnh Xuân quyền. Có thể là các vật liệu Nguyễn Tế Vân chỉ lưu truyền Tiểu niệm đầu, Mộc nhân thung, Lục điểm bán côn và phần còn lại của các hình thức đã được thêm vào từ các thế hệ sau.

Thiếu Lâm Vĩnh Xuân quyền dòng Đặng Tân

Theo lịch sử của dòng Thiếu Lâm Vĩnh Xuân quyền, tên Vĩnh Xuân quyền có nguồn gốc từ Vĩnh Xuân điện tại chùa Nam Thiếu Lâm. Sau khi thoát khỏi vụ hoả thiêu Nam Thiếu Lâm do triều đình Mãn Thanh tiến hành, Thiền sư Chí Thiện đã đến lánh nạn tại Hồng Thuyền với thân phận là một người đầu bếp. Tại đây, ông đã truyền dạy võ công của mình cho Hoàng Hoa Bảo (người đứng đầu của Hồng Thuyền) và một số người khác cũng làm việc trong Hồng Thuyền bao gồm Hoa Diện Cẩm, Lương Nhị Thái và Lương Lan Quế. Để bảo vệ cho Thiền sư Chí Thiện khỏi sự truy sát của triều đình, tất cả học trò tại Hồng Thuyền đều giữ kín thân phận thật sự của ông và gọi môn võ ông dạy họ là Vĩnh Xuân quyền. Chính vì vậy, từ đây đã xuất hiện khá nhiều các truyền thuyết khác nhau về môn Vĩnh Xuân quyền.

Hoa Diện Cẩm sau này truyền lại cho một số học trò, trong đó có Phùng Thiếu Thanh (Fung Siu Ching). Phùng Thiếu Thanh truyền lại cho con trai là Phùng Tín (Fung Tin), anh em nhà họ Lỗ, Dung Jik, Ma Chung Yi và Đặng Thuyền (Tang Suen). Rất có thể, Đặng Thuyền là huynh đệ cùng thời với Nguyễn Tế Vân (Nguyễn Tế Công – Yuen Chai Wan – sư tổ của Vĩnh Xuân quyền Việt Nam) và Nguyễn Kỳ Sơn (Vĩnh Xuân quyền Phật Sơn), bởi Phùng Thiếu Thanh có dạy cho anh em họ Nguyễn khi ông về ở ẩn tại Phật Sơn.

Đặng Thuyền sau này dạy lại cho con là Đặng Tân (Tang Yik). Đặng Đức rất giỏi về Lục điểm bán côn, được mệnh danh là vua côn.

Nguồn: lophocvinhxuan.com