Thân pháp Đại sư Kyuzo Mifune

Luyện tập của võ đường Vĩnh Xuân Ngô Gia

Vĩnh Xuân Nguyễn Tế Vân

Đại sư Nguyễn Tế Công luyện mộc nhân

Đại sư Nguyễn Tế Công luyện mộc nhân

Nguyễn Tế Vân (Yuen Chai Wan, 1877-1960) là anh trai của quyền sư Vịnh Xuân quyền nổi tiếng Nguyễn Kỳ Sơn (Yuen Kay Shan, 1889-1956), con trai của thương gia Nguyễn Long Minh – có xưởng pháo hoa ở Phật Sơn. Ông thường được biết với tên Nguyễn Lão Tứ. Khi còn nhỏ ông bị thủy đầu để lại sẹo vĩnh viễn trên mặc nên ông có biệt danh “đậu bì Tế”.

Đầu tiên Nguyễn Tế Vân cùng em trai học Vịnh Xuân quyền từ quan án sát Khâm Châu Hoắc Bảo Toàn (Phổ Bá Quyền), giỏi về đao pháp nên có biệt danh là “Hoắc song đao”, là truyền nhân của Vịnh Xuân Xà Hình Hoàng Hoa Bảo và Chí Thiện Vĩnh Xuân Đại Hoa Diện Cẩm trên Hồng Thuyền. Sau khi học được nhiều năm, họ đã làm chủ được các bài quyền, mộc nhân, phi tiêu, đao, côn và kỹ năng thiết thủ (một biến thể của Thiết sa chưởng). Đến khoảng năm 1933, họ mời đồng môn của Hoắc Bảo Toàn là Phùng Thiếu Thanh (khoảng 1863-1936), truyền nhân của Tân Cẩm (Đại Hoa Diện Cẩm) – từng là bộ đầu ở Phật Sơn hoặc cận vệ của thống đốc Tứ Xuyên – về nghỉ hưu tại gia đình và học Vĩnh Xuân quyền của Phùng Thiếu Thanh cho đến lúc ông qua đời vào năm 1936. Anh em Nguyễn Thái Vân đã chủ trì tổ chức tang lễ cho Phùng Thiếu Thanh.

Nguyễn Tế Vân cũng như em trai của mình, dạy rất ít đệ tử. Ở Phật Sơn, Diêu Tài (1890-1956) là đệ tử duy nhất của ông. Diêu Tài đã học Vĩnh Xuân quyền từ ông trong gần 15 năm. Sau đó, Nguyễn Tế Vân giới thiệu Diêu Tài đến học với Ngô Trọng Tố (1876-1970), đệ tử Trần Hoa Thuận. Trần Hoa Thuận là đệ tử của Vịnh Xuân quyền vương Lương Tán – truyền nhân của Hoàng Hoa Bảo và Lương Nhị Thái (truyền nhân Lục điểm bán côn của Chí Thiện).

Năm 1936, sau khi Phùng Thiếu Thanh mất, Nguyễn Tế Vân được mời dạy Vĩnh Xuân quyền cho hội thương gia người hoa ở Thuận Đức, Nam Hải và Việt Nam. Vì những lý do không rõ, Nguyễn Tế Vân đã chuyển đến Hà Nội, nơi ông được biết đến với tên Nguyễn Tế Công, tứ ông Nguyễn Tế.

Do cuộc sống khó khăn, Nguyễn Tế Vân đã phải mở một võ đường để kiếm sống. Hiện có rất nhiều hiểu lầm về danh tánh và nơi ở của ông. Một số câu truyện cho rằng ông đến Việt Nam để kinh doanh. Các đệ tử ở Việt Nam cũng cố gắng thêm vào lịch sử võ học của ông từng học Lương Tán, đây là điều không chính xác. Lai lịch và quá trình học võ của ông được xác định tại Vĩnh Xuân quyền Phật Sơn.

Có lẽ Nguyễn Tế Vân đã truyền thụ Vĩnh Xuân quyền theo 2 giáo trình riêng biệt ở Việt Nam. Ông truyền lại cho người Hoa cùng một giáo trình mà ông đã dạy Diêu Tài ở Phật Sơn, với sự bổ sung Lục điểm bán côn và Mộc nhân thung. Đối với đệ tử người Việt, dường như ông chỉ truyền dạy Tiểu niệm đầu, Mộc nhân thung và Lục điểm bán côn. Các thế hệ sau của đệ tử của ông có vẻ như đã được thêm vào một số lượng lớn các kỹ thuật quyền pháp không phải của Vĩnh Xuân quyền. Ngay cả việc thay đổi truyền khẩu về nguồn gốc dòng Vĩnh Xuân quyền của Nguyễn gia, truyền dần từ Ngũ Mai – Nghiêm Nhị – Lương Bác Trù xuống Hoàng Hoa Bảo, Lương Nhị Thái, Đại Hoa Diện Cẩm và La Vãn Cung.

Đến năm 1955, Nguyễn Tế Vân chuyển vào Sài Gòn, mở võ đường thứ 2 ở khu vực chợ Lớn. Ông đã đào tạo thêm các đệ tử Nguyễn Duy Hải (Hồ Hải Long), Ngô Sỹ Quý, Lục Viễn Khai và một số người khác. Nguyễn Tế Vân qua đời vào năm 1960 ở tuổi 84.

Hệ thống Vĩnh Xuân quyền của Nguyễn Tế Vân

Chương trình giảng dạy tại Phật Sơn:

  1. Tiểu niệm đầu (có thể là một bài quyền gồm 3 phần có chứa các kỹ thuật của 3 bài quyền cơ bản của Vịnh Xuân quyền),
  2. Trúc thung,
  3. Nhị tự kiềm dương đoạt mệnh đao,
  4. Bát thức tán đả Trúc thung
  5. Tản thức.

Chương trình cho người Hoa trong thời gian ở Việt Nam:

  1. Tiểu niệm đầu,
  2. Tản thức,
  3. 108 Mộc nhân thung,
  4. Nhị tự kiềm dương đoạt mệnh đao,
  5. Lục điểm bán côn,
  6. Khuyên thủ,
  7. Niêm thủ.

Diêu Kỳ cho rằng Diêu Tài đạy bài Tiểu niệm đầu giống như bài quyền của dòng Cho gia, một bài bao gồm: Tiểu niệm đầu, Tầm kiều và Biêu chỉ. Diêu Kỳ thuật lại rằng cha ông đã học từ Nguyễn Tế Vân trong vòng 15 năm, ông cũng đã học Tản thức, Trúc thung, Vòng xuyến và Nhị tự đao.

Thật khó để xác định xem đây là thông tin chính xác Diêu Kỳ liên quan hay không. Vì nó sẽ có vẻ rằng Nguyễn Tế Vân có kiến thức chính xác giống như em trai của ông, Nguyễn Kỳ Sơn, như họ đã học được cùng các sư phụ. Có thể Nguyễn Tế Vân bất đắc dĩ phải dạy Vĩnh Xuân quyền, cũng giống như em trai của mình, Nguyễn Kỳ Sơn, chỉ có 1 đệ tử là Sằm Năng.

Tại Sài Gòn, Nguyễn Tế Vân truyền dạy Mộc nhân thung thay vì Trúc thung. Ông cũng dạy Lục điểm bán côn. Một điều thú vị, nhận thấy bởi Viện nghiên cứu Vịnh Xuân quyền, đó là anh em họ Nguyễn chỉ có thể dạy đệ tử những gì họ đã học được từ sư phụ đầu tiên, Hoắc Bảo Toàn, lúc Nguyễn Tế Vân đang dạy Diêu Tài. Vào khoảng năm 1933, khi Phùng Thiếu Thanh chuyển vào sống tại nhà họ Nguyễn, họ mở rộng học hỏi thêm từ ông ấy. Nó có thể là 108 Mộc nhân thung và Lục điểm bán côn là tài liệu mà họ chưa được học cho đến khi gặp Phùng Thiếu Thanh. Do đó, Nguyễn Tế Vân không thể dạy những điều mà ông không nắm chắc về sau năm 1933.

Chương trình giảng dạy của đệ tử Việt Nam:

  1. Tiểu niệm đầu,
  2. Ngũ hình khí công,
  3. Tiểu mai hoa,
  4. Đại mai hoa,
  5. Hạc hình thủ bộ,
  6. Mộc nhân thung,
  7. Lục điểm bán côn,
  8. Kiếm pháp,
  9. Phi tiêu.

Đệ tử người Việt của Nguyễn Tế Vân (Nguyễn Tế Công) có một chương trình đào tạo hoàn toàn khác những gì Nguyễn Tế Vân dạy tại Phật Sơn hoặc với những gì ông đã dạy người Hoa tại Việt Nam. Các chương trình đào tạo khác nhau tại Việt Nam (trong đó cũng được cho là thay đổi từ Bắc vào Nam) có thể là kết quả của các đệ tử Nguyễn Tế Vân thêm vào trong tài liệu. Theo điều tra, các cơ chế được sử dụng trong rất nhiều các hình thức không phải xuất xứ từ Vĩnh Xuân quyền. Có thể là các vật liệu Nguyễn Tế Vân chỉ lưu truyền Tiểu niệm đầu, Mộc nhân thung, Lục điểm bán côn và phần còn lại của các hình thức đã được thêm vào từ các thế hệ sau.

Thiếu Lâm Vĩnh Xuân quyền dòng Đặng Tân

Theo lịch sử của dòng Thiếu Lâm Vĩnh Xuân quyền, tên Vĩnh Xuân quyền có nguồn gốc từ Vĩnh Xuân điện tại chùa Nam Thiếu Lâm. Sau khi thoát khỏi vụ hoả thiêu Nam Thiếu Lâm do triều đình Mãn Thanh tiến hành, Thiền sư Chí Thiện đã đến lánh nạn tại Hồng Thuyền với thân phận là một người đầu bếp. Tại đây, ông đã truyền dạy võ công của mình cho Hoàng Hoa Bảo (người đứng đầu của Hồng Thuyền) và một số người khác cũng làm việc trong Hồng Thuyền bao gồm Hoa Diện Cẩm, Lương Nhị Thái và Lương Lan Quế. Để bảo vệ cho Thiền sư Chí Thiện khỏi sự truy sát của triều đình, tất cả học trò tại Hồng Thuyền đều giữ kín thân phận thật sự của ông và gọi môn võ ông dạy họ là Vĩnh Xuân quyền. Chính vì vậy, từ đây đã xuất hiện khá nhiều các truyền thuyết khác nhau về môn Vĩnh Xuân quyền.

Hoa Diện Cẩm sau này truyền lại cho một số học trò, trong đó có Phùng Thiếu Thanh (Fung Siu Ching). Phùng Thiếu Thanh truyền lại cho con trai là Phùng Tín (Fung Tin), anh em nhà họ Lỗ, Dung Jik, Ma Chung Yi và Đặng Thuyền (Tang Suen). Rất có thể, Đặng Thuyền là huynh đệ cùng thời với Nguyễn Tế Vân (Nguyễn Tế Công – Yuen Chai Wan – sư tổ của Vĩnh Xuân quyền Việt Nam) và Nguyễn Kỳ Sơn (Vĩnh Xuân quyền Phật Sơn), bởi Phùng Thiếu Thanh có dạy cho anh em họ Nguyễn khi ông về ở ẩn tại Phật Sơn.

Đặng Thuyền sau này dạy lại cho con là Đặng Tân (Tang Yik). Đặng Đức rất giỏi về Lục điểm bán côn, được mệnh danh là vua côn.

Nguồn: lophocvinhxuan.com

Diệp Vấn: Cuộc đời và Võ thuật

Đại Sư Diệp Vấn

Đại Sư Diệp Vấn

(Ghi chép bởi Diệp Chẩn, con trai của Diệp Vấn)
Sinh ngày tháng 10 năm 1893, qua đời tháng 12 năm 1972 ở tuổi 79. Tôn sư Diệp Vấn đã dành toàn bộ cuộc sống của mình như là nhà truyền nhân vô địch của Vịnh Xuân Quyền. Ông chịu trách nhiệm đẩy danh tiếng Vịnh Xuân phát huy tính ưu việt của nó như ngày hôm nay. Khắp thế giới, môn sinh của Vịnh Xuân Quyền tiếp tục xuất bản các bài viết về Tôn Sư Diệp Vấn, về cuộc sống của ông và những thành tựu. Vì thế, để chào mừng kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Ông biên niên này đang được sản xuất cho tất cả những người quan tâm đến Vịnh Xuân Công phu.

Biên niên sử này viết về Diệp Vấn và đóng góp của ông với phong cách của Vịnh Xuân Quyền. Do đó, các chi tiết của cuộc sống của mình, đào tạo và nghề nghiệp của ông, sẽ chỉ được viết vắn tắt. Hiện có hàng ngàn môn sinh của Vịnh xuân quyền và những người không được đề cập trong bài này thông cảm với tác giả vì thiếu thông tin và kiểm chứng. Diệp Vấn sinh ngày 14 tháng 10 1893 trong triều đại nhà Thanh (Kand Shoui – 05 Tháng 9 trong lịch Trung Quốc) trong thị trấn Phật Sơn ở tỉnh Quảng Đông sau đó ở Lâm Hội quận. Vì vậy, nơi sinh Diệp Vấn thường được gọi là Lâm Hội, Quảng Đông.

Cha Ông là Diệp Bá Đa/Yip Oi Dor, mẹ ông là Ng Thủy, ông là một trong bốn anh chị em. Anh trai của ông được gọi là gei Gak (Diệp Vấn ban đầu còn được gọi là gei Man). Cô em gái tên là Wan Mei (Sik Chung)

– 1899 đến năm 1905 (Ching Kwong Thủy?). Diệp Vấn 6 đến 12 năm tuổi. Địa điểm: Phật Sơn. Ông học Vịnh Xuân Công phu của Trần Hoa Thuận (Money Changer Wan). Vị trí là thị trấn chính trong Phật Sơn ở đường Yun( Dai Gai?) trong hội trường gia đình họ Diệp. Khu vườn bây giờ thuộc sở hữu của chính phủ và hội trường không còn ở đó. Đồng thời học tập cùng với Diệp Vấn có các Sư huynh: Lôi Nhữ Tế, Ngô Trọng Tố, Ngô Tiểu Lỗ và những người khác.
– 1905 (Ching Kwon Thủy?). Diệp Vấn 12 tuổi. Địa điểm: Phật Sơn. Trần Hoa Thuận đã qua đời, nhưng trước khi ông qua đời, ông căn dặn Ngô Trọng Tố giúp Diệp Vấn để hoàn thành hệ thống Vịnh Xuân. Thi thể của Trần Hoa Thuận đã được chôn cất bởi các môn đệ của ông trong làng Thuận Đức.
– 1937 (Mãn Quốc năm 26) Diệp Vấn 44 tuổi. Địa điểm: Phật Sơn. Nhật xâm lược miền nam Trung Quốc.
– 1937 đến 1945 (Mãn Quốc năm 26 đến 34) Diệp Vấn 44 đến 52 năm tuổi. Địa điểm: Phật Sơn. Trong suốt 8 năm, Diệp Vấn đã chiến đấu với người Nhật khi Phật Sơn bị chiếm đóng và cai trị bởi một chính phủ bù nhìn. Tôn Sư thề không làm việc cho chính phủ bù nhìn, do đó ông đã trở nên rất nghèo và ông đã thường bị đói. May mắn nhờ người bạn tốt của mình, Chu Trương Chung, cho ông thực phẩm theo thời gian. Diệp Vấn muốn đền đáp lại lòng tốt của mình và do đó chấp nhận con trai ông, Chu Quang Dụ, là học trò của mình. Từ 1941 đến 1943, ông dạy Vịnh Xuân Công phu trong nhà máy nghiền bông Vĩnh An. Tại thời điểm này cùng học tập với Chu Quang Dụ có Quốc Phù, Trần Chi, Ngô Vịnh, Luân Giai, Chu Tế và những người khác. Đây là những môn sinh thế hệ đầu tiên Diệp Vấn truyền dạy. Quách Phú và Luân Giai vẫn còn sống và giảng dạy Vịnh Xuân quyền ở Trung Quốc ngày hôm nay, tại Phật Sơn, Quảng Châu.
– 1945 (Mãn Quốc năm 34) Diệp Vấn năm 52 tuổi. Địa điểm: Phật Sơn. Năm Nhật đầu hàng.
– 1945 đến 1949 (Mãn Quốc năm 34 đến 38) Diệp Vấn 52 đến 56 năm tuổi. Đến từ: Quảng Châu, Phật Sơn. Trong khoảng thời gian này, Diệp Vấn bận rộn nhất với công việc của mình tại nơi làm việc, mặc dù yêu thích Vịnh Xuân quyền, nhưng ông đã dừng giảng dạy nó trong một thời gian. Cho đến khi, vào năm 1948, thông qua người bạn rất tốt của ông là Đường Giai, ông được giới thiệu với Bành Thụ Lâm để dạy cho anh ta Vịnh Xuân quyền. Qua thời gian bận rộn này, Diệp Vấn truyền dạy Bành Lâm theo giáo trình ở Thượng Phật Trương Nhị Hiệp Hội.
– 1949 (Man Kwok năm 38) Diệp Vấn 56 tuổi. Đến từ: Macao và Hồng Kông. Diệp Vấn đã đi qua Macao đến Hồng Kông, nhưng trong khi ở Macao, ông đã có hai tuần ở tại Cho Doi đường với những người bạn sở hữu một cửa hàng gia cầm.

Diệp Vấn đánh Mộc Nhân

Diệp Vấn đánh Mộc Nhân

– 1950 đến 1953 (Man Kwok năm 39 đến 42) Diệp Vấn 57 đến 60 năm tuổi. Địa điểm: Hong Kong Trong tháng 7 năm 1950, thông qua giới thiệu của Lý Dân, Diệp Vấn bắt đầu giảng dạy ở đường Đại Lâm, Cao Lôn, Hồng Kông. Lớp học đầu tiên đã được Hiệp hội Công nhân nhà hàng giúp đỡ. Khi ông mở lớp học này chỉ có 8 người bao gồm cả Lương Tướng và Lạc Diệu. Tất cả những nhân viên nhà hàng, nhưng sau đó có Từ Thượng Điền, Diệp Bì Chính, Triệu Vấn, Lý Ân Vinh, Luật Bành, Diệp Tiểu Hưng và những người khác. Đây là những người cóvị trí hàng đầu của Hiệp hội Công nhân nhà hàng lúc này. Diệp Vấn cũng giảng dạy cho công nhân trong chi nhánh nhà hàng Thượng Văn , , Union HQ tại Hồng Kông. Môn sinh bao gồm Lý Vịnh, Duệ Cường, Lý Lương Phẩm và những người khác.
– 1953 đến 1954 (Man Kwok năm 42 đến 43) Diệp Vấn 60 đến 61 năm tuổi. Địa điểm: Hồng Kông. Khi Lương Tướng thất bại trong cuộc bầu cử công đoàn, Diệp Vấn buộc phải di chuyển lớp học đến Hội Tần. Học tập tại thời điểm đó có Hoàng Thuần Lương, Vương Kiều, Vương Trắc, Ngô Trần và những người khác. Diệp Vấn cũng dạy tư nhân tại đền thờ Hoàng tử Ba trên đường Nguyệt Châu. Môn sinh là Lý Hùng và những người khác.
– 1954 đến 1955 (Man Kwok năm 43 đến 44) Diệp Vấn 61 đến 62 năm tuổi. Địa điểm: Hồng Kông. Lương Tướng đã được tái bầu làm chủ tịch của các công đoàn lao động nhà hàng và để Diệp Vấn di chuyển lớp học trở lại. Điều này được gọi là giai đoạn sau của Hiệp hội Công nhân nhà hàng. Tại thời điểm này, tham gia học tập có Lý Cẩm Sinh, Giản Hoa Tiệp(Victor Kan), Lư Văn Cẩm, Trương Trác Khánh(William Cheung) và những người khác.
– 1955 đến 1957 (Mãn Quốc năm 44 đến 46) Diệp Vấn 62 đến 64 năm tuổi. Địa điểm: Hồng Kông. Diệp Vấn di chuyển các trường ở phố Lý Đạt , Dao Mã Điếm ở Cao Lôn. Các môn sinh ở đây là Lý Tiểu Long, Trần Thành, Hầu Kiên Chương, Vi Ngọc Thụ, Bàn lai Bình, Bành Cẩm Phát và những người khác.
– 1957 đến 1962 (Mãn Quốc năm 46 đến 51) Diệp Vấn 64 đến 69 năm tuổi. Địa điểm: Hồng Kông. Trong suốt 5 năm Yip Man di chuyển qua các trường Lý Trương Oải Xuân. môn sinh là Mạc Bì, Dương Hắc, Mai Dật, Hồ Cẩm Minh và những người khác. Trong khoảng thời gian này Diệp Vấn giảng dạy chủ yếu là dạy tư. Tại cửa hàng đồ gốm Thuận Kỳ, môn sinh là Vương Phách Nhị, Vương Vĩ, Dương Chung Hán, Châu Lục Nhị, Hoàng Quốc Dân và những người khác. Tại Sầm Hạ Từ, Bàng Lực Hồng, môn sinh là những Đường Tào Trí, Chi Lý Phát, Triệu Sán Trác, Đàm Lai và những người khác. Tại đường Phật Đài, mon sinh là Trương Cẩm Xuyên, Xung Vĩnh Khang.
– 1962 đến 1963 (Mãn Quốc năm 51 so với 52) Diệp Vấn 69 đến 70 năm tuổi. Địa điểm: Hồng Kông. Diệp Vấn di chuyển trường đến 61 đường Phật Đài, một đơn vị trong việc xây dựng Heng Yip?. Môn sinh được dạy là Trương Nhữ Vinh, Hồ Luân, Chung Thanh An, Trần Vân Lâm, Trương Thái Nghiêm và Quốc Dân. Dạy tư tại cửa hàng may mặc Nhị Vĩ tại Tsim Sha Tsui. môn sinh là Peter Trương và một nhóm người của Phó Lực Hồng.
– 1963 đến 1965 (Man Kwok năm 52 đến 54) Diệp Vấn 70 đến 72 năm tuổi. Địa điểm: Hồng Kông. Trường được chuyển đến tầng trên cùng của nhà hàng Tương Thái ở phố Phúc Xuân, Tai Kok Tsui?. Đây vốn là các kho. Chủ sở hữu là Hồ Luân đã cho phép sử dụng phòng để dạy. Hầu hết những người từ các trường tại Yip Heng xây dựng cũng di chuyển đến đây. Cũng như Hồ Luânn còn có Dương Chung Hán, Nhất Dụng Tùng, Bành Cẩm Phát, Chính An, Lý Văn Vĩnh và Yau Hak. Trong giai đoạn này Diệp Vấn cũng dạy môn sinh chủ yếu là từ phía cảnh sát, tư nhân tại San Po Kong, đường Hin Hing. Họ gồm Đặng Tăng, Lâm Vĩnh Phát, Khổng Nguyên Chi, Lý Diêu Phi, Vương Các và những người khác.
– 1965 đến 1972 (Man Kwok năm 54 đến 61) Diệp Vấn 72 đến 79 năm tuổi. Địa điểm: Hồng Kông. Các trường học tại nhà hàng Sang và Diệp Vấn chuyển đến sống trên đường Tung Choi vì ông đã già. Mặc dù ông đã nghỉ hưu song ông vẫn dạy học tư nhân. Đi đến nhà của Diệp Vấn trong suốt thời gian này, là Vương Chung Hoa (Yat Oak Goi Tse), Hoàng Hội, Hồng Nhã Tam và những người khác. Ông cũng đã đi ra ngoài giảng dạy để bốn địa điểm:
1. Ving Tsun Athletic Hiệp hội, trong đó, vào năm 1967, là tổ chức võ thuật đầu tiên được đăng ký chính thức với chính phủ. Hiệp hội Ving Tsun Athletic sau đó đã quyết định mở các lớp học Công phu tại địa chỉ của hiệp hội. Hiệp hội bầu Diệp Vấn phụ trách giảng dạy. Giúp ông còn có Chính An, Phụng Khôn , Chung Vương Khôn và những người khác. Thời gian khoảng ba tháng.
2. Trên Waterloo Road, học tập ở đây là Trần Vĩ Hồng, anh em Tiểu Long, cũng Vương Chí An, Trần Cẩm Minh, Chung Diệu, Lưu Hội Lâm, Cương Văn Nghiêm và những người khác.
3. Chi Yau Road. Khi Trần Vĩ Hông đã có các hoạt động kinh doanh khác và không thể tiếp tục ở Waterloo Road, Diệp Vấn di chuyển đến tầng thượng của tòa nhà Lưu Hồ Lâm. Tham gia học tập ở đây Vương Chí Minh và ông cũng chính thức chấp nhận một nữ môn sinh là Ngô Nguyệt
4. Siu Fai Toi. Tại nhà của luật sư Diệp Tịnh Trác và một số môn sinh là khác mời của luật sư. Đây là nơi cuối cùng Diệp Vấn dạy Vịnh Xuân Công phu.
Diệp Vấn qua đời tại nhà riêng trên đường Tung Choi vào ngày 01 Tháng Mười Hai 1972 (Man Kwok năm 61). Ngày 26 tháng 10 âm lịch của Trung Quốc. Ông rất thích 79 năm của cuộc đời.

Nguồn: http://wingchunquan.blogspot.com/2012/12/diep-van-va-nien-bieu-cuoc-oi-vo-thuat.html

Quyền sư Lục Hào Kim

Quyền sư Lục Hào Kim

Quyền sư Lục Hào Kim

Nói đến Vịnh Xuân quyền, những người yêu võ thuật ở vùng Sài Gòn – Chợ Lớn liền nghĩ ngay đến quyền sư Lục Viễn Khai và đồ đệ Lục Hào Kim, những truyền nhân đưa môn võ học này tồn tại và phát triển ở Việt Nam.

Vịnh Xuân quyền do danh sư Nguyễn Tế Công truyền bá tại Hà Nội. Đến năm 1954, di cư vào nam, ông tiếp tục dạy môn công phu này tại Chợ Lớn cho 3 đồ đệ Quang Sáng, Trương Cao Phong và Lục Viễn Khai tại nhà nhị đệ tử Trương Cao Phong (tiệm may Thượng Hải, đường Đồng Khánh, Q.5). Ngoài dạy võ, Nguyễn Tế Công còn chữa trật đả, gãy xương tại tiệm thuốc Lôi Công đường (cạnh rạp hát Lido, Q.5).

Sau 8 năm thụ đắc Vịnh Xuân quyền từ Nguyễn sư phụ, Lục Viễn Khai chỉ truyền dạy cho 3 đồ đệ là bằng hữu Lương Kiều Vũ, bào đệ Lục Hào Kim và nữ võ sĩ Lý Huỳnh Yến tại tiệm photo Thần Quang (Tản Đà, Q.5), bởi Lục Hào Kim là thợ “tút rửa” ảnh tại đây và tiệm này có khoảng sân để luyện tập. Trong suốt thời gian truyền bá Vịnh Xuân quyền, không may quyền sư Lục Viễn Khai bị bệnh và ông tạ thế năm 1981, hưởng thọ 60 tuổi. Những gì ông truyền đạt lại đã được 3 đồ đệ nỗ lực giữ gìn, chỉ tiếc là người con trai Nguyễn Trí Thành lại không theo nghề võ.

Lục Hào Kim (sinh năm 1934) tại huyện Thuận Đức, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), vốn là vận động viên bơi lội, đến năm 22 tuổi mới theo sư huynh Lục Viễn Khai tập Vịnh Xuân quyền. Ông Lục Hào Kim cho biết: “Lấy nền tảng từ một môn võ có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm tại tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, môn phái Vịnh Xuân quyền từ chỗ chỉ được truyền dạy âm thầm trong các gia tộc trở thành một trong những phái võ được nhiều người biết đến và say mê luyện tập nhất, với hàng triệu đệ tử và hàng chục hệ phái trên toàn thế giới”. Vịnh Xuân quyền chỉ duy nhất bài Tiểu Luyện Đầu. “Theo sư huynh tôi truyền lại thì môn phái không có Ngũ Hình quyền và nội công như ở Hà Nội, tại Hồng Kông, danh sư Diệp Vấn (sư phụ ngôi sao điện ảnh Lý Tiểu Long – NV) gọi là Tiểu Niệm Đầu và chế tác thêm chiêu thức Trầm Kiều và Biêu Chỉ”, lão võ sư Lục Hào Kim tâm sự.

Bài danh quyền Tiểu Luyện Đầu gồm 36 chiêu thức như Vân trung hạc (hạc trong mây) là động tác khởi động, Hạc hình thư bộ (bộ pháp khoan thai), Đại Phật chuyển thân (luyện xoay eo lưng), Song xà xuất động (công kích địch thủ), Nhị tử kiềm dương mã (tấn pháp), Mai hoa bộ (thân, thủ, bộ pháp), Hạc hình (đánh chỏ, gối và 5 đầu ngón tay), Xà hình (hai tay dính liền với tay đối phương, luyện khớp dẻo dai), Tam tinh quyền (3 quả đấm thôi sơn liên hoàn) cùng 8 phương pháp gồm Thán (ém tay), Phục (đè tay), Bòn (lật vai), Trầm (ém tay), Xuyên (xỉa gạt từ dưới hất lên), Biếu (dùng Song chỉ thọc mắt), Lòn (lật mu bàn tay đánh lên), Tắc (dùng ức bàn tay đánh xuống).

Vịnh Xuân quyền không múa may hoa mỹ lại ít sử dụng đòn chân, chiêu thức tập trung ở mười đầu ngón tay, cạnh mu bàn tay và cùi chỏ, tấn công yếu huyệt địch thủ từ đỉnh đầu xuống thắt lưng như trán, mắt, cổ, họng, màng tang, yết hầu… Môn sinh phải luyện hai cánh tay linh hoạt, dẻo dai và uy lực qua phương pháp Tiêu đả (đối kháng, tiêu nghĩa là hóa giải, đả là tấn công), Niêm thủ (dính tay) kết hợp luyện đánh mộc nhân và bao cát mỗi ngày.

Năm 2014, quyền sư Lục Hào Kim bước sang tuổi 80 nhưng trông ông vẫn nhanh nhẹn, tráng kiện và minh mẫn. Mỗi ngày hai giờ ông lên tận tầng 3 luyện Tiểu Luyện Đầu, đánh mộc nhân và bao cát. Ngoài dạy kèm Vịnh Xuân quyền cho vài đồ đệ tại tư gia, quyền sư còn dành thời gian vẽ tranh thủy mặc (ông là hội viên Hội Mỹ thuật TP.HCM, hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam).

Nguồn: http://thethao.thanhnien.com.vn/pages/20140501/ky-nhan-lang-vo-ky-4-truyen-nhan-vinh-xuan-quyen.aspx

Trịnh Quốc Định – Niêm Côn

Cùng với Bát Trảm Đao, Lục Điểm Bán Côn được xem là binh khí đặc trưng của môn Vĩnh Xuân Quyền. Nếu như Bát Trảm Đao rất phù hợp với lối đánh gần, đòi hỏi sự linh hoạt của đôi tay, sự nhẹ nhàng uyển chuyển của bộ pháp, mang tính nhu nhuyễn, thì Lục Điểm Bán Côn phù hợp với lối đánh xa, đòi hỏi sức mạnh của đôi tay, sự vững chắc của bộ pháp, mang tính cương mãnh.

Trong môn Vĩnh Xuân, niêm là một kỹ thuật mang tính đặc trưng của bản môn. Niêm tay đã khó, niêm côn lại càng khó. Để thực hiện được kỹ thuật niêm côn đòi hỏi người luyện phải có một kungfu nhu nhuyễn lâu năm. Có nhiều tư liệu về Lục Điểm Bán Côn của các dòng phái ở Trung Quốc và Hồng Kông, nhưng tư liệu về niêm côn thì rất hiếm. Tại Việt Nam các tư liệu về binh khí, đặc biệt là về Lục Điểm Bán Côn hầu như vắng bóng. Có lẽ vì nó đơn giản quá chăng? Tư liệu về cố VS. Trịnh Quốc Định dưới đây là một trong những tư liệu hiếm hoi có đề cập đến kỹ thuật niêm côn của môn Vĩnh Xuân.

Xin giới thiệu để các bạn cùng tham khảo.

VXQuyền

Kỹ thuật Vĩnh Xuân Sầm Năng

Xin giới thiệu một số kỹ thuật căn bản của Vĩnh Xuân Sầm Năng.

 

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 40 other followers

%d bloggers like this: