Vĩnh Xuân Quyền (Wing Chun Kuen)


Để lại phản hồi

Đạo thầy trò

Một bài viết sâu sắc về đạo thầy trò của tác giả Lưu Minh Trung, học trò của danh sư Phùng Chí Cường, người sáng lập ra Trần Thức Tâm ý Hỗn nguyên Thái cực quyền . “Thầy của mình là nguồn gốc của mình, nơi mình bắt đầu, và học trò là dòng chảy của mình nơi mình kết thúc. Thầy luôn hiện hình trong quá khứ, hiện tại và tương lai của một đệ tử.”

THẦY VÀ TRÒ

Võ học xưa và nay có nhiều điểm khác biệt, người học nên tùy duyên phận mà tu dưỡng học tập, có những điều không thể muốn mà được, và có những điều không cầu mà có.

Tiền nhân học võ vì mưu sinh hoặc vì tìm thầy học đạo. Nếu vì mưu sinh thì võ thuật liên quan đến sinh mạng, nên việc truyền dạy và tu luyện đều cẩn mật, thầy không dễ nhận học trò, cũng không dễ truyền dạy bí quyết, vì dạy nhầm người là tạo nghiệp ác, nguy hiểm đến tính mạng người khác và chính bản thân mình. Nên học trò đã được thầy nhận thì cũng không chắc được học hết của thầy hoặc học được tinh túy của bản môn. Vì thế trong lịch sử võ thuật, một danh sư dạy bao nhiêu học trò nhưng cũng chỉ vài đệ tử thành tài lưu truyền môn phái hoặc mở ra những môn phái mới. Một phần vì trò không đủ duyên phận-đạo đức-năng lực, nhưng cũng một phần là thầy biết không nên truyền cho người đó, để bảo vệ bản môn và các môn đệ.

Thế nên việc nhận học trò và phân loại học trò rất được chú trọng, tùy người mà dạy, mỗi người một thiên bẩm, không phải dạy ai cũng một cách như nhau. Giáo trình giảng dạy cũng vậy, phân làm sơ-trung-cao, có huynh-đệ để dắt nhau và chế khắc. Tiền học rất cao (hơn học văn) để học trò nỗ lực và quý trọng thầy, nhưng cũng có trường hợp không có tiền mà thầy vẫn dạy vì trọng duyên phận, trọng nghĩa (thường nhưng đệ tử này sau được tâm truyền), và thầy cũng sẵn sàng bỏ học trò khi thấy học trò có tài mà không có đức. Rất nhiều cao thủ cả đời luyện công, công phu đại thành mà không có học trò, họ sống để bụng chết mang đi. Âu cũng là số phận, họ đã là những học trò giỏi nhưng không được làm thầy vì họ không gặp trò, đó là thân phận của những cao nhân mặc khách, ẩn dật lánh đời, một đời vui với gió mây, chẳng muốn ai biết đến mình.

Với người thầy cái quan trọng là thầy của mình và học trò của mình là ai? Thầy của mình là nguồn gốc của mình, nơi mình bắt đầu, và học trò là dòng chảy của mình nơi mình kết thúc. Thầy luôn hiện hình trong quá khứ, hiện tại và tương lai của một đệ tử.

Vì mưu sinh, thầy dạy võ hoặc làm bảo tiêu. Dạy võ đôi lúc còn nguy hiểm hơn bảo tiêu. Tiền nhân nói: “văn vô đệ nhất võ vô đệ nhị”. Nghĩa là văn khó mà so sánh được ai hơn ai, còn võ thì phải so bằng tỷ thí. Nên một người thầy khi đứng lên nhận học trò, lập võ đường là bắt đầu một cuộc đời chấp nhận tỷ thí, đối mặt với cái chết hoặc sự chê cười của giời võ thuật. Hiển nhiên là thầy thì không sợ những cái đó, nhưng nếu chết thì dòng võ đạo của thầy ngừng chảy. Danh sư thường ẩn dật tránh đời, nhất là khi công phu đáo thành, hoặc biệt tích khi truyền xong công phu cho một đệ tử nào đó. Trò có thể không nhận ra thầy, nhưng thầy luôn nhận ra trò, thầy xuất hiện đúng lúc trò cần, nhưng không phải lúc nào trò cũng tìm ra thầy. Có như thế thầy luôn giữ được đạo. Có như thế trò sau khi rời xa thầy thì mới càng thấm thía những gì đã được học, không còn thầy mà phải tự lập trên đôi chân của mình, hình ảnh của thầy luôn động viên và là nguồn cảm hứng cho học trò tu tập.

Khi người học trò đứng được lên vai thầy thì môn phái mới ra đời. Vì thế trong võ thuật, quyền thức có vị trí tối trọng, là mẫu. Mẹ sinh ra con, không có mẹ thì không có gì. Xưa nay phép truyền võ là truyền quyền, tức là học võ mà không học quyền thì coi như chưa học. Dựa vào quyền thức mà thầy truyền dạy tất cả công pháp-công dụng-bí quyết của môn phái, mọi thứ dấu trong quyền, ẩn trong chiêu thức. Đây chính là điều đánh giá sở học của thầy và làm căn cứ đánh giá học trò được học tới đâu. Quyền là bí quyết truyền thụ của thầy, là tâm điểm của môn phái. Các môn phái ra đời sau là dựa theo sở trường sở đoản của thầy mà thay đổi quyền thức, còn phép luyện công cơ bản là như nhau. Luyện công xưa nay không ngoài nội công và ngoại công. Luyện ngoại công thì nội gia và ngoại gia cơ bản không khác nhau nhiều, nhưng luyện nội công thì có chỗ phân biệt. Ngoại gia lấy cương kình, còn nội gia lấy nhu kình làm mục đích. Tiêu biểu hai phép luyện này là ngoại gia (Thiếu lâm phái) dùng dịch cân kinh-tẩy tủy kinh làm phép tập, nội gia (Võ đang phái) dùng đan điền công-hỗn nguyên công làm phép tập. Phối hợp hài hòa hai phép tập nội công này là con đường của các danh sư. Thông qua giao thủ với thầy mà trò học tâm pháp của thầy, đây là mấu trốt trong phép truyền thụ tinh hoa võ học. Công phu của thầy sẽ thể hiện hoặc dấu đi trong lúc giao tay với trò, nếu trò chỉ học quyền mà không được giao tay với thầy thì coi như mới học cái vỏ, không thể hiểu được quyền sẽ được dùng như thế nào, luyện ra sao? Trong lúc giao thủ, nhiều điều thầy truyền cho mà không thể nói lên hoặc viết ra được, đó là tâm truyền, chân truyền. Truyền thụ võ công luôn gồm 3 nội dung là Quyền phổ (quyền, kiếm, đao, côn, thương, tiêu…), Thôi thủ (tán thủ), Khí công (nội công và ngoại công). Chỉ là đệ tử truyền nhân mới được học thôi thủ, học xong thôi thủ thì quyền thức sẽ được trò luyện theo cách khác lúc ban đầu được học, lúc này là quyền thức bắt đầu là của chính mình, thể và dụng của quyền thức dần dần hiện hình trong tâm thức kẻ hậu học. Nhưng như thế chưa đủ, vì không học khí công thì quyền thức và thôi thủ vẫn không có căn bản, học xong khí công người học trò mới hiểu ra y võ là một, võ không y như cây không gốc. Học võ không học y thì không biết giá trị của “dưỡng”, không biết dưỡng thì võ không trưởng. Sau này khi hiểu đạo người học trò mới thấy y là cầu nối giữa võ và đạo, không học y thì đạo không chân thực. Đạo học mênh mông, võ học thâm sâu đến đâu là nhờ hiểu biết y học đến mức nào.

Không nên phán xét môn phái nào hơn môn phái nào, quan trọng là cơ duyên và tâm pháp của thầy-trò. Thầy có trách nhiệm chỉ con đường chính đạo, còn đi là người học trò tự mà đi, ngã thì tự đứng dậy. Vì thế người học trò không thể đòi hỏi nhiều ở người thầy được, học nhiều hay ít là ở duyên phận, luyện thành hay không là do bản thân.

Làm thầy quan trọng phải khiêm tốn, vì thầy biết sâu hiểu rộng nên biết rằng, ngoài núi này còn có núi khác cao hơn. Thầy phải truyền đức khiêm tốn đó cho trò vì điều đó quyết định tới sự an nguy của trò sau này. Khiêm tốn không có nghĩa là tự ti mà là sự hiểu biết tới tận cùng của võ đạo, hiểu giá trị của công phu tu dưỡng. Vì người thầy biết không gì đối phó được một trái tim hận thù, cách tốt nhất là tránh xa, và ẩn dật là phương cách tốt nhất. Ẩn dật xưa nay là nép đẹp của trí thức phương Đông, xấu xa lộ ra, tốt đẹp che lại. Vì xấu nên không bị ghen ghét, mà tốt thì luôn giữ lại được. Vì thế mà Thầy rất hạn chế để lộ công phu, tránh tỉ thí. Vì đánh được người này thì sẽ có người khác muốn gặp, không đánh được thì trò không phục. Vậy lúc nào thì ra tay? Do duyên phận mà quả nghiệp hiện ra, nhân nào quả đấy, cái ác tự nó nhận lấy kết cục của nó. Lúc đó vì thuận đạo, hợp cảnh, mà công phu phút chốc phát lộ. Nó như bông mai nở trong tiết xuân sau một đêm mưa lạnh, như cánh đào phai rời cành trước một cơn gió lạ, không do dự, không gượng ép và tất nhiên không có sự sợ hãi tồn tại trong tâm người thầy.

Học võ như cầu đạo, không thể cưỡng ép được. Cái gì đến sẽ đến và đi sẽ đi, như công phu sẽ đến với trò khi trò mở rộng tâm để đón nhận, khi trò khổ công để tu luyện. Đó là tâm-thân cùng tu, không do phóng túng tâm tưởng, không do đầy đọa thân thể mà đạt được. Thân động trước rồi tâm động theo, tâm tĩnh thì thân tĩnh, tâm tĩnh để điều thân và thân tĩnh để an tâm. Ngộ là kết quả của thân động đến cực thì tâm tĩnh bắt đầu. Tâm tĩnh thì thần minh hiện ra, soi sáng muôn vật. Vậy nên khổ công luyện tập là sự bắt đầu của một võ thuật gia, bắt đầu là luyện thân và kết thúc là luyện tâm. Thầy căn cứ thái độ cầu học, tinh thần khổ luyện và tâm đạo của trò mà thầy truyền dạy. Trò càng hư không trống rỗng thì thầy rót vào càng nhiều, nên trò càng ít dục vọng thì càng học được nhiều. Thầy đắc đạo có tâm hư tĩnh. Hư tĩnh trong diện mạo cũng như quyền thuật, vì hư nên không thấy đáy, vì tĩnh nên biến hóa vô cùng. Trò theo đó mà khiêm tốn nhẫn nại, dưỡng tâm cầu đạo.

Thầy là đạo, trò tìm thầy là tìm đạo. Võ thuật chỉ là phương tiện, là cầu nối giữa thầy và trò. Tiền nhân học võ không phải chỉ vì mưu sinh mà còn vì thông qua võ để tiếp cận với đạo. Kẻ học võ để mưu sinh, khi công phu đáo thành cũng hợp đạo. Đạt đạo thì võ thuật mới đến đỉnh, không đạt đạo thì võ thuật chỉ là chuyện tay chân mà thôi. Đạo không phải là sự tưởng tượng trong tâm thức mà là sự giản hóa tuyết đối hình thức, sự quay về gốc của mọi quá trình, là sự bắt đầu cũng như kết thúc. Nên đạo tính chân không, hư tĩnh, giản phác, phổ biến và biến hóa. Không đâu không có, có cũng như không, không can thiệp mà có tác dụng, lúc ẩn lúc hiện, đi kịp thời và đến đúng lúc, nên có đạo thì không nguy khốn vì không bất cập thái quá, không cạn vì hư không, luôn biến hóa vì hư tĩnh, vô sinh vô diệt nên trường tồn. Thế nên chân võ thuật thì không có điểm dừng, khi trò cảm thấy công phu đã thành thì là lúc thầy hiện ra và chỉ rõ đó là một sự bắt đầu mới. Cứ như thế mà thầy và trò luôn đi trên con đường học đạo, thầy đi trước vì biết đường, trò đi theo vì kính thầy. Khi trò đi ngang với thầy thì thầy sẽ dắt trò đến một người thầy khác, để đảm bảo trò luôn được đi đúng đường, đó là chân sư (người thầy chân chính). Vì thế các danh sư thường học với nhiều người thầy hoặc theo nhiều môn phái. Khi thành thấy thì trong tâm chỉ còn một người thầy và một môn phái mà thôi. Nên khi lập môn đứng võ đường, thầy thờ bản môn và sư phụ của mình. Sư phụ là người truyền môn phái đến cho mình, các người thầy khác giúp ta hiểu rõ hơn về sư phụ, các môn phái khác giúp ta hiểu rõ hơn về bản môn. Thế nên gặp được chân sư là phúc phận, gặp được là nhờ duyên, học được là nhờ phúc. Gặp rồi mà không biết tức là không có duyên, có duyên mà không học được là không có phúc.

Là chân sư, thầy không bao giờ phô diễn tài năng và bắt người khác học của mình, vì thầy biết việc tu tập không phải là việc cưỡng ép được, thầy trò gặp nhau là duyên tiền định. Thầy không ngừng tu tập, kể cả khi đã có học trò, thế nên có hay không có học trò thì việc tu luyện võ công vẫn diễn ra hàng ngày như hít thở và suy nghĩ vậy. Khi thầy có trò thì con đường tu thêm một người đồng hành, niềm vui nhân lên và trách nhiệm nhiều hơn. Thầy cứ đi mà đợi học trò xuất hiện, thầy luôn nhận ra ngay người học trò của mình hoặc không phải đệ tử của mình từ cái nhìn đầu tiên. Bởi vì quá trình tu tập thầy phải dọn dẹp và hiểu mình, thầy biết để tập luyện môn phái này cần phải có những đức tính gì, cơ duyên tới đâu…Nên thầy để trò tìm mình mà mình không tìm trò.

Con đường đến với đạo không bao giờ bằng phẳng với bất cứ ai, vị thầy đạt đạo là những người có cuộc đời đặc biệt hơn người thường, thông thường thì các vị thầy này luôn có một tuổi thơ khó khăn, hoặc truyền thống gia đình, hoặc căn tu rất chắc chắn. Vì thế thầy hiểu võ tuy là tiểu đạo nhưng chứa chính đạo trong đó, cuộc đời vất vả khó khăn là thử thách cho kẻ luyện võ. Sống mà cầu sung sướng thì võ học không bao giờ đạt đỉnh cao cả. Người thầy cho học trò thấy điều đó, như bông mai trắng nở trong nắng xuân trên gốc mai khẳng khiu khi vừa trải qua một mùa đông giá lạnh, khiêm tốn, giản dị, ẩn tàng sức sống mãnh liệt mà không phô trương. Thầy và trò đối đãi nhau không phải lấy tiền bạc làm mục đích, vì bỏ ra nhiều tiền, thầy truyền dạy hết thì người trò cũng chưa chắc học được. Thế nên khi biết duyên phận của trò không đủ thì thầy sẽ dừng lại, như rót nước vào ly vậy, đầy rồi thì không rót nữa. Thế nên người thầy giỏi là người biết nhận ra đâu là chiếc ly lớn và luôn biết cách làm sao chiếc ly đó không được đầy, vì đầy rồi thì sở học dừng lại. Thầy cũng vậy, thầy luôn là dòng sông sâu và không bao giờ cạn nước, nguồn càng cao thì càng chảy siết, chảy ra biển lớn nên không bao giờ tù đục, hòa công đức với trời đất.

Trò trả ơn thầy không phải bằng vật chất hoặc tình cảm. Thầy là người tu đạo, nên buồn vui là đạo, được mất là đạo. Thầy cần trò sống đúng đạo, nối được dòng chảy của mình, tiếp tục truyền thừa môn phái. Vì thế nếu trò cần ra đi để tiếp tục việc tu đạo của mình thì thầy sẽ không bao giờ giữ, ngược lại thầy biết lúc nào trò nên ra đi và chủ động chia tay trò. Thầy hiểu tâm người trò, nếu tâm trò không dừng lại ở sở học của thầy thì thầy nên để trò đi tìm người thầy giỏi hơn, vì đó là hợp đạo lý. Người trò đi mãi và học nhiều người thầy khác, cuối cùng trò sẽ tìm được người thầy trong tâm mình. Trò luôn có một người thầy, không có thầy thì không có gì cả, người ta không thể học đạo mà không có thầy, kể cả sư tổ.

Võ học uyên thâm, hiện hữu trong mọi mặt của đời sống thiên nhiên và xã hội, trong đối nhân xử thế tiếp vật của một võ đức. Vì thế đánh giá một võ thuật gia là đánh giá một đạo đức. Một người thầy mà tham sống sợ chết, ham thú vui thân-tâm, liên lụy danh-lợi thì không được gọi là võ đức cao thượng được. Thầy không có võ đức thì trò cũng không có được. Ngày nay người ta hiểu rằng võ đức là học võ nhưng không đánh người, không làm điều ác, khỏe mạnh và yêu đời, làm nhiều việc thiện. Như thế chưa đủ. Võ đức trước hết phải đứng trên võ đạo, tức là nhập đạo mà hành võ. Ngày nay, đa phần người học không nhập đạo để học võ, cũng không luyện võ đến lúc kiến đạo và nhập đạo. Kẻ tự xưng nhập đạo thì võ công chưa đạt, võ học chưa thông đó là giả đạo. Kẻ tự xưng là hành võ thì đạo học không tường, đạo đức chưa hay đó là giả võ. Cả hai đều hình thức, chìm đắm trong vọng tưởng để mưu cầu danh-lợi.

Ngày nay, nếu là bậc chân tu thì sẽ chọn con đường ẩn dật trốn đời. Người gọi là thầy thường không phải chân sư. Võ học ngày nay đang biến hình thành môn tập thể dục dưỡng sinh hoặc làm phương tiện tự vệ. Đứng ở góc độ tự vệ thì võ học truyền thống không đáp ứng được nữa vì phương tiện sát thương đã rất phong phú đa dạng lại thêm dục tâm càng ngày càng khó kiểm soát. Vậy học võ để tự vệ là không đủ, tự vệ phải dựa vào sự hiểu biết, biết người biết ta và quan trọng là tâm tu. Một tâm đức lành lặn, một hành xử có đạo thì không lo việc phải tự vệ. Đó là cách tự vệ tốt nhất.

Học võ để cầu đạo là nhu cầu người đời nay trong bối cảnh đạo đức suy đổi và nhân cách bị vật chất hóa. Thực giả lẫn lộn vì đời nay vô đạo, đó là hậu quả tất yếu của một xã hội có khoa học phát triển, vật chất dư thừa. Người ta có nhiều phương tiện để đạt được mục đích sao cho nhanh nhất. Nên con đường tu dưỡng đạo đức không phải là nhu cầu thiết yếu, nó chỉ là phấn son và áo mũ cho những kẻ có tiền và nhàn rỗi. Một kẻ gọi là có học hay có tiền thích một bề ngoài mang màu sắc đạo đức kiểu truyền thống, vì nó thanh tao, cao thượng ngược lại với những sắc màu tầm thường trong xã hội bây giờ. Họ nghĩ rằng, có học mà có đạo thì sở học cao hơn và có tiền mà giản dị khiêm tốn là có đạo đức. Tất cả đều là vọng tâm tưởng, chấp ngã và xa rời chân đạo.

Nên ngày nay thầy không ra thầy thì trách gì trò không ra trò. Thầy dạy trò mà mười năm vẫn học, trò luôn đứng dưới thầy. Thầy cố ép trò học hi vọng năm tháng sẽ đúc ra một người trò giống thầy, nhưng thầy có thành đạo đâu mà bắt trò như vậy. Thực tế là trò học lâu thì thầy nhiều tiền và nhiều học trò đến với mình. Thầy có danh và lợi do học trò đông và ở lâu với mình. Đây là điều các chân sư ngày xưa không mong muốn, họ lập công đức xong là ra đi mà không nhận phần thưởng, không cần ai biết hay đánh giá. Thế nên truyền võ đạo rất nhanh và ra đi ngay khi chưa có danh. Nên phần lớn trò khi thành đạo hiểu được thầy thì không tìm được thầy nữa. Cách truyền võ công truyền thống này giúp võ học được truyền đến ngày nay và luôn tươi mới, đa dạng nhiều màu sắc.

Ngày nay việc truyền quyền đều không chân thật. Do thầy học không đến nơi, hoặc do thầy sửa lại nên hình quyền không chân như ban đầu, cùng với đó ý quyền cũng không rõ ràng mà học trò được học quyền mà không học ý hoặc học ý mà không học quyền. Thêm vào đó, thầy tập chưa đến nơi nên chưa đạt, vì chưa đạt nên không dám truyền hoặc có truyền thì chưa đủ. Môn phái không rõ ràng, gốc chưa rõ thì ngọn không thành. Cứ như thế thầy và trò như hai người mù đi sờ voi, nếu trò nói to hơn thầy thì bị mắng là vô phép, nếu thầy nói sai thì trò không biết hỏi ai. Đó là lỗi của thầy. Trò ngày nay học võ nhưng không thực sự cầu học. Học võ mà không đọc sách, không biết lý luận và lịch sử của môn phái mình đang học. Trò ngày nay chuộng danh xưng, nên thích tông phái này nọ, thích lên mạng quay phim, xem hình, đấu khẩu. Càng nhiều tạp niệm thì càng khó học, càng nhiều thông tin thì không biết đâu là gốc. Loạn trí thì loạn thần, tâm không yên thì niềm tin không có. Đức tin là nền tảng cho bất cứ một ai mang tâm đi tu tập, không có đức tin thì đứng vào đâu, dựa vào chỗ nào để thực hành. Trò không tin vào bản môn, không tin thầy thì học tập làm gì? Nếu có tin thì hiểu thế nào về thầy và môn phái? Không tin nhưng vẫn học, vì không bỏ được danh và lợi. Không xả kỷ thì làm sao nhập đạo được? Vậy là trò không Chính nên thầy cũng không cần Chân. Thật khó để tìm thầy giỏi trong hoàn cảnh ngày nay phải không? Đúng mà không! Thầy giỏi như ngày xưa thì không có, nhưng giỏi ở một phần nhỏ nào đó thì vẫn có thể tìm được. Trò không vì thế mà coi thường thầy, thầy cũng như mình, là sản phẩm của một xã hội đang chuyển động đa chiều, khắt khe với thầy thì không ai dạy mình nữa. Lịch sử chứng minh, trò thành đạt là nhờ thầy và thầy thành danh là nhờ trò. Thầy và trò như âm và dương, không thể độc lập tồn tại được mà phải giao hòa để chuyển hóa cho nhau, trợ nhau phát triển.

Thầy tôi có nói “giáo nhân tự trưởng”, tức là dạy người thì mình sẽ trưởng thành. Tôi tin danh sư nào cũng có học trò rất giỏi, nhờ có học trò giỏi nên khi dạy, chính người học trò đó đã gián tiếp dạy lại mình. Thế nên thầy và trò chỉ là hai tên gọi mà thôi, nhiều khi thầy còn biết ơn trò, cảm ơn Trời Phật cho mình một học trò xuất sắc, nên thầy coi trò như con mà gọi là Đệ tử, chữ tử trong chữ tử tôn. Vì được làm con nên trò gọi thầy là Sư phụ, chữ phụ trong chữ phụ mẫu.

Nhớ ơn Thầy!

Đông Anh, mùa xuân Ất Mùi, 2015.

Lưu Minh Trung, trần thức tâm ý hỗn nguyên thái cực quyền đệ tam đại truyền nhân.

Nguồn: facebook Dương Minh Tuấn


Để lại phản hồi

11 NGỘ NHẬN TRONG LUYỆN TẬP THÁI CỰC QUYỀN

Thiết nghĩ những điều ngộ nhận này không chỉ ở trong môn Thái Cực Quyền, mà ở tất cả các môn võ trong đó có môn Vĩnh Xuân Quyền. Luyện võ có luyện cương có luyện nhu, có luyện động có luyện tĩnh, có luyện nhanh có luyện chậm, có luyện trong có luyện ngoài …Muốn hiểu đúng về võ thuật phải chuyên cần luyện tập, và không ngừng trau dồi kiến thức để tránh những ngộ nhận đáng tiếc như “11 điều ngộ nhận trong luyện tập Thái Cực Quyền” dưới đây.

taichichuen

Truyền thống Thái cực quyền thuật của Trung quốc  là bộ phận trọng yếu trong văn hóa võ thuật truyền thống của Trung quốc, Thái cực quyền  nổi tiếng thiên hạ về thuật đánh nhau cao siêu phồn tạp, ảo diệu vô cùng và nội hàm triết học thâm ảo, trong lịch sử không thiếu cao nhân, nhưng hiện tại nhiều người có nhiều ngộ nhận trong nhận thức đối với Thái cực quyền. Để người yêu thích Thái cực quyền  có nhận thức đúng đắn, tôi mạo muội đem 11 điều ngộ nhận trình bày dưới đây:

1) Ngộ nhận thứ 1: coi “Thái cực thao” lưu hành rộng rãi thành Thái cực quyền, làm cho nhiều người ngộ nhận về Thái cực quyền. Bạn thấy nhiều người già luyện “Thái cực thao” ở công viên, họ có thể thực chiến? Từ đó suy ra: Thái cực quyền  không thể thực chiến. Kỳ thực, trước tiên cần phân biệt Thái cực quyền  và Thái cực thao. Thái cực quyền chân chính tồn tại nơi thiểu số truyền nhân của các lưu phái. Do Thái cực quyền có thuật cao siêu, lý luận tương đối thâm ảo, nên rất ít truyền nhân đạt được chân truyền.

2)  Ngộ nhận thứ 2: rất nhiều người coi Thái cực quyền  chỉ là bàn giá tử và thôi thủ, họ tưởng thông qua luyện bàn giá tử, thôi thủ đạt được mục đích trở thành cao thủ Thái cực quyền. Có người dùng tinh lực cả đời nhất tâm chuyên chú vào đạo này, kết quả luyện đến lão là hao tốn tinh lực vô ích. Không biết rằng Thái cực quyền truyền thống có rất nhiều phương pháp huấn luyện!

3) Ngộ nhận thứ 3: rất nhiều người chỉ có thể triêm trứ đả, do giảng đả pháp “triêm”, “niêm”, “liên”, “tùy”, chỉ trong trạng thái “Triêm” mới có thể phát huy uy lực của Thái cực quyền, vì thế một số người gọi “Thái cực quyền ” là “Lại quyền”, ý là “Sái lại bì” (quyền đùa giỡn hoắc chơi xỏ ngoài da), không phải là chân công phu. Kỳ thực không phải vậy, trong thực chiến biến hóa vạn thiên, há có thể cùng đối thủ niêm dính? Họ không biết Thái cực quyền truyền thống giảng đả pháp “Y bất triêm y, thủ bất đáp thủ, nhĩ đả ngã, ngã đả nhĩ, nhất chiêu kiến thâu doanh” (Tạm dịch: áo không chạm áo, tay không chạm tay, người đánh ta, ta đánh người, một chiêu là biết thắng thua). Năng triêm trứ đả, cố nhiên là tốt, có thể phát huy thế mạnh của Thái cực quyền, khi không thể triêm tại sao cần triêm? Chẳng lẽ thế mạnh của Thái cực quyền chỉ có triêm, niêm, liên, tùy sao?

4) Ngộ nhận thứ 4: hiểu sai “Tích nhu thành cương”, lý luận tích nhu thành cương bản thân không sai, vấn đề là lý giải bất đồng. Có người cả đời nhu, mà không thấy “cương” là gì, luyện vài chục năm Thái cực quyền nhu nhuyễn, mà không tích xuất được cương kình, vì sao vậy? Kỳ thực quan trọng là lý giải “nhu”, vậy thì “nhu” là thế nào? Kỳ thực nhu tịnh không thể giản đơn lý giải thành “nhuyễn”, Trương Thiệu Đường tiên sinh nói “Nhuyễn là lỏng lẻo, không phải là nhu, đè một cái thì méo, không linh động quay về”. Chân chính nhu giàu tính đàn hồi, mà nhuyễn thì ngạnh…

5) Ngộ nhận thứ 5: hiểu sai “tùng”; một số người luyện tập Thái cực quyền cho rằng “Luyện Thái cực quyền  chính là không sử kình, bất dụng lực”, nhất mực cầu “tùng”, truy cầu “đại tùng đại nhu”, nhưng không biết tùng là để làm gì, kết quả luyện cả đời, luyện thành một loại “Hi tùng Thái cực quyền” (tạm dịch: Thái cực quyền cẩu thả) , căn bản không dùng được trong thực chiến, thật đáng tiếc! Kỳ thực luyện tập Thái cực quyền  phóng tùng là chính xác, phóng tùng để khí huyết lưu thông, khí huyết lưu thông thì có thể đạt tới hiệu quả “Lực tự trầm trọng”. Người tập Thái cực quyền có công phu, thì cánh tay không dụng lực mà vô cùng trầm trọng, chính là đạo lý này, nguyên lý của Thái cực quyền là có cơ sở triết học, hữu “tùng” thì tất nhiên hữu “khẩn”, hữu”nhu” thì tất nhiên hữu “cương”, cái gọi là “Cô âm bất sinh, độc dương bất trường”. Có người đọc một quyển Thái cực quyền, coi như hiểu được đạo lý của Thái cực quyền, còn vẫn không đạt tới “tùng”, đã bắt đi truy cầu “không” . Kết quả là luyện tập lâu dài, ngoài động tác thuần thục, thì công phu “Không không như dã” .

6) Ngộ nhận thứ 6: liên quan tới phương thức hô hấp. Có người luyện tập Thái cực quyền thủy chung duy trì tự nhiên hô hấp coi là được rồi, kỳ thực là sai lầm lớn! Không biết rằng công phu Thái cực quyền  là phân tầng thứ. Người sơ luyện dùng tự nhiên hô hấp là hợp lý, nhưng công phu tới trình độ nhất định, nếu vẫn kiên trì tự nhiên hô hấp thì sai, luyện tập Thái cực quyền  như học sinh đọc sách, làm sao có thể cùng dùng một giáo án? Sơ luyện dùng tự nhiên hô hấp, sau một thời gian lâu dài luyện tập, công phu tiến bộ, phế hoạt lượng tăng gia, thì cần cùng động tác phối hợp súc phát, khai hợp – súc thì hấp khí, phát thì hô khí, tiểu phúc khởi phục là nghịch thức, tức hấp khí thời thu súc, hô khí thời cổ khởi – do đó nói là “Nghịch phúc thức hô hấp”, tùy theo công phu tăng tiến cùng sự tiền bộ trong tu luyện nội công, lâu ngày đạt đến “Hô hấp thông linh”, đồng thời đan điền nội sản sinh “Đan cầu” – “Đan cầu” tùy theo ý niệm và động tác mà chuyển động, có người gọi là “Đan điền nội chuyển” .

7)  Ngộ nhận thứ 7: có người nói Thái cực quyền  là vận động hình tròn, kỳ thực không hẳn, Thái cực quyền  không đơn giản như vậy, động tác của Thái cực quyền bao hàm nhiều động tác chuyển chiết lớn nhỏ, bên trong hàm chứa nhiều kỹ thuật tế nhị. Con người có nhiều quan tiết, trong động tác của Thái cực quyền, mọi quan tiết bộ vị của thân thể đều cần căn cứ nhu cầu mà chuyển quyển. Đại quyển bao trùm tiểu quyển, phối hợp cao độ, gọi là “Loạn hoàn pháp”, không hiểu điều điều đó, thì trong thực chiến không thể nhu hóa lực của đối phương, đem Thái cực quyền  luyện thành “Thái cực thao”, dù khổ luyện một đời cũng là uổng phí. Nắm chắc loạn hoàn pháp thì có thể hóa giải lực của đối phương trong vô hình.

8)  Ngộ nhận thứ 8: trong tác phẩm kinh điển 《 Thái cực quyền  luận 》 , Vương Tông Nhạc tiên sư đề cập tới sự nguy hại của “Song trọng chi bệnh”. Có người giải thích sai, thậm chí đem trọng  giải thích thành trùng, mà không biết “song trọng” và “thiên trầm” là quan hệ đối ứng. Lại có đương kim Thái cực quyền  danh gia, trong văn chương giải thích đạo lý rõ ràng, lưu loát, trường thiên đại luận, thế nhưng xem biểu diễn Thái cực quyền  quyền giá từ đầu đến cuối vẫn là song trọng giá tử! Kỳ thực, bệnh  song trọng rất đơn giản, các bộ phận thân thể con người có kết cấu đối xứng, luyện tập Thái cực quyền  âm dương bất phân chính là song trọng, phân ra âm dương tất nhiên là một bên thiên trầm, một bên thiên khinh, do đó nói rằng thiên khinh không phải bệnh. “Song trọng tắc trệ, thiên trầm tắc linh”, người mà luyện tập một số năm vẫn không thể vận hóa do đâu? Do bệnh song trọng chưa ngộ! Có thể thấy tránh bệnh song trọng là tối quan trọng trong luyện tập Thái cực quyền. Tránh bệnh song trọng không thể chỉ ở ngoài miệng và trong văn tự, cần thể hiện trong Thái cực quyền quyền giá.

9) Ngộ nhận thứ 9: nội gia quyền nhấn mạnh dĩ tĩnh chế động, hậu phát chế nhân.  Thái cực quyền  là nội gia quyền, diễn luyện và thực chiến đều tao nhã, luyện Thái cực quyền  như hành vân lưu thủy, thần nhàn khí định, lại chú trọng khí thế. Đó là sai lầm lớn! Nội gia quyền mạnh ở dĩ tĩnh chế động, hậu phát chế nhân không sai, nhưng cũng có thể tiên phát chế nhân, dĩ động chế tĩnh, nên có văn giá hành vân lưu thủy, cũng có vũ giá như long trời lở đất, động tĩnh tương kiêm, khoái mạn tương gian, cương nhu tương tể. Vũ giá Thái cực quyền  rất chú trọng khí thế, nhất lộ nhãn thần, kháp dục nhiếp hồn phách địch, đoạt thần loạn chí. Trước đây thường nói cao thủ tỉ vũ, song phương mục quang đối nhau, chiếu diện, thắng phụ đã định, chính là vậy. Bạn xem ở công viên đa số chỉ cầu kiện thân mà ngày ngày luyện Thái cực thao mềm mại, muốn có khí thế, có thể không?

10) Ngộ nhận thứ 10: trong sách của danh gia nào đó, ông này, ông kia theo Dương Lộ Thiền tiên sinh học quyền, các học trò đạt được một phần của tiên sinh, ông này thiện nhu hóa, ông kia thiện cương phát. Kỳ thực, như vậy là vô ý hạ thấp ông này và ông kia. Thái cực quyền  là quyền pháp cương nhu tương tể, các ông đều là Thái cực quyền  đại sư, chẳng nhẽ chỉ được một phần? Luyện Thái cực quyền  chỉ thiện nhu hóa, khác gì người thường chỉ dùng một chân đi bộ, thật nực cười.

11) Ngộ nhận thứ 11: thường nghe nói “Thái cực thập niên bất xuất môn”, câu này đại sai! Thái cực quyền  kỹ thuật phức tạp, nhưng tuyệt phi thập niên bất xuất môn. Nếu có minh sư giáo hối, huấn luyện có hệ thống, bảo đảm thời gian luyện công, tự mình có ngộ tính, thì “Tam niên tiểu thành, ngũ niên đại thành” . Nên nói “Thái cực thập niên bất xuất môn” thực là ngộ nhận! Giả như có một số người theo “danh sư” khổ luyện mười năm, không đạt  chân công phu, thế thì “Thái cực thập niên bất xuất môn” thành cái cớ tốt nhất. Câu này hại không ít người! Làm cho bao người ngộ nhận.

Nguồn: www.thaicucquyen.com
Biên dịch: Nguyễn Hoàng Quân


Để lại phản hồi

Quách Phú một trong Thất đại đệ tử của Sư phụ Diệp Vấn

Sau khi trở về Phật Sơn sau thế chiến thứ II, Diệp Vấn đã truyền dạy Vịnh Xuân cho các đệ tử, bạn bè và họ hàng dù không chính thức mở võ đường. Một số đệ tử thành danh của ông giai đoạn này có Lạc Diêu, Chu Quang Dụ, Quách Phú, Luân Giai, Trần Chí Tân và Lã Ưng. Trong số đó, Chu Quang Dụ xem là người xuất sắc nhất, nhưng cuối cùng anh đi theo con đường kinh doanh và dừng luyện võ.

Quách Phú và Luân Giai tiếp tục dạy võ và truyền bá Vịnh Xuân quyền ở Phật Sơn và vùng Quảng Đông. Trần Chí Tân và Lã Ưng sau này đến sống tại Hồng Kông và không nhận bất cứ một đệ tử nào.

Sư phụ Quách Phù

Sư phụ Quách Phú

Năm 1940, có một cậu bé 18 tuổi kiên trì 3 lần đến nhà Diệp Vấn xin bái sư học nghệ. Sở dĩ việc được chấp thuận diễn ra khó khăn như thế là bởi Diệp sư phụ ngại tuổi tác cậu cũng hơi lớn, khó có thể dạy dỗ thành tài.

Tuy nhiên, do sự kiên trì quá mức, cuối cùng cậu cũng được chấp thuận, trở thành môn đồ thứ 7 của Diệp Vấn, người đó chính là Quách Phú.

Quách Phú sinh năm 1921 tại Quảng Đông (Trung Quốc) trong một gia đình nông dân nghèo. Bởi vậy nên ông phải ra ngoài làm việc từ rất sớm, năm 15 tuổi đã ra nhà kiếm việc làm.

Vào khoảng năm 1940 khi đang là người học việc tại một tiệm kẹo trên đường Vĩnh An, Phật Sơn, Quách Phú phát hiện tại cửa hàng bông vải sát bên, Nhất đại tông sư Diệp Vấn đang bí mật dạy Vịnh Xuân Quyền cho 6 môn đồ.

Vốn là người đam mê võ thuật, hơn nữa thời đó lại rộ lên phong trào học võ bởi quân Nhật Bản đang dần tiến vào nhiễu loạn Phật Sơn nên ai cũng muốn có chút gì đó phòng thân.

Chàng trai họ Quách thời đó cũng không ngoại lệ, đã bị cuốn hút vào phong thái cùng những đòn đánh của Diệp sư phụ. Qúa mức mê mẩn, anh lập tức xin được làm học trò của ông.

Nhưng trái với sự mong chờ, ông nhìn chàng thanh niên đứng tuổi và kiên quyết từ chối. Không hề nản lòng, Quách Phú kiên quyết 3 lần đến cửa, xin học võ bằng được.

Nhận thấy sự quyết tâm quá lớn từ cậu trai trẻ tuổi, Diệp sư phụ nhận lời thu nạp thêm đệ tử thứ bảy.

Ngay ngày đầu tiên vào phòng luyện công, Diệp sư phụ đã cho anh giao đấu với các môn sinh khác để xem phản ứng, phản xạ, sở trường, sở đoản…

“Hầu như ngày nào tôi cũng bị đánh te tua. Nhưng cứ sau mỗi lần thì tôi càng lưu ý đến chiêu thuật và thế công thế thủ của đối phương để phản ứng hiệu quả”- Quách Phú kể lại.

Mặc dù tuổi tác không nhỏ, nhưng Diệp Vấn sớm đã nhìn ra tố chất ở cậu học trò thứ 7. Chỉ sau 3 năm, ông đã nắm vững tâm pháp Vịnh Xuân Quyền mà sư phụ cố công truyền thụ.

Năm 1945, Phật Sơn sụp đổ, võ đường buộc phải đóng cửa, Quách Phú phải bỏ về quê.

Tuy nhiên, Diệp sư phụ biết được khả năng của đệ tử, không quản ngại đường sá, thường đi bộ hàng chục cây số đến nhà anh ở Hạ Giáo Bảo để chỉ bảo riêng. Tiếp tục truyền thụ 2 năm nữa Vịnh Xuân cho họ Quách.

Đến sau đó, chính ông cũng phải thừa nhận rằng, dù gia nhập muộn nhưng khả năng của Quách Phú là nổi bật nhất. Cuối cùng, ông là người đứng đầu “Thất đại đệ tử” của Diệp Vấn, sở hữu võ công cao cường nhất.

Diệp Vấn và học trò

Diệp Vấn và học trò

Cao thủ ẩn dật

Khả năng Vịnh Xuân của vị đứng đầu “Thất đại đệ tử” này chẳng phải là danh bất hư truyền.

Sở hữu võ công cao cường song Quách Phú sống rất ẩn dật. Lần thượng đài duy nhất của ông là vào năm 30 tuổi, tuy chỉ một lần nhưng danh tiếng và sự kinh động của nó khiến người ta không thể nào quên.

Năm đó, sư phụ Diệp Vấn đã sang Hồng Kông, họ Quách vẫn tiếp tục ở lại Phật Sơn trông coi võ đường của sư phụ. Có một cao thủ đương thời nghe phong thanh danh tiếng đệ tử Diệp Vấn của ông mà liên tục tìm đến cửa khiêu chiến 3 ngày.

Ngại ồn ào, Quách Phú buộc phải nhận lời. Hai bên giao thủ qua 14 chiêu vị quyền sư kia không thể nào nhập sát vào để ra đòn được. Hơn thế còn bị Quách phát một ngón Đàn thủ khiến người bật ra sau đến chục bước, bèn xấu hổ cáo từ. Từ đó Quách Phú nổi danh ở hai vùng Quảng Châu và Phật Sơn.

Tuy nhiên, nhìn bề ngoài không ai nghĩ đó là một cao thủ. Ông sống cực kì khiêm tốn, ẩn dật, nụ cười hiền lành và gương mặt nho nhã. Nhưng nếu nhìn kĩ, cước bộ của họ Quách luôn nhẹ nhàng, tâm thế ung dung hành động dứt khoát.

Đến khi đã hơn 90 tuổi, Quách Phú vẫn trông tráng kiện, hai mắt phát thần quang, kình lực phát thủ còn rất mạnh mẽ, khiến người ta e ngại.

Lại có chuyện kể lại rằng, Diệp Vấn từng trao bí kíp quyền phổ và sách thuốc của mình cho Quách Phú sao chép.

Theo truyền thống trong giới võ lâm thì quyền phổ không dễ gì trao cho người khác. Diệp Vấn làm như vậy là muốn truyền y bát Vịnh Xuân quyền cho Quách Phú.

Quách Phú tiết lộ rằng bí kíp quyền phổ trên gọi là “Vịnh Xuân quyền bí bản”, ngoài việc ghi chép tường tận 116 thức của bản môn còn có một phần rất quan trọng về điểm huyệt, gọi là “Điểm mạch pháp” hay “Đả mạch pháp”.

Loại công phu này rất hiểm, chỉ có người đạt được công lực thượng thừa và có võ đức mới nên luyện và vạn bất đắc dĩ mới sử dụng. “Sư phụ lúc sắp rời Phật Sơn đi Hồng Kông mới truyền thụ công phu này cho tôi”. – Quách Phú từng chia sẻ.

Hơn 60 năm không còn nhìn thấy mặt sư phụ, nhưng Quách Phú vẫn nhớ lại từng giây phút được ông dạy bảo : “Ông ấy rất bình tĩnh, luôn trầm ổn và sống rất quân tử. Đó thực sự là một con người vĩ đại”.

Trong suốt thời gian của mình, Diệp Vấn đã thu nhận hàng trăm đệ tử. Trong đó có những người nổi tiếng, thành danh như Lý Tiểu Long, Trương Trác Khánh.

Nhưng trước lúc qua đời, lời dặn của ông lại hướng về Quách Phú: “Sau này nếu ai muốn học công phu Vịnh Xuân chính tông thì hãy đến Phật Sơn, tìm Quách Phú”.

Quách thị Vịnh Xuân Quyền

Quách thị Vịnh Xuân Quyền

Trong nhiều năm qua, nhớ lời dạy của sư phụ, họ Quách rất tích cực chỉ điểm, dạy dỗ cho học trò mà chẳng thu lấy 1 đồng học phí. Bởi Diệp Vấn cùng dạy miễn phí cho ông, cớ gì ông lại thu tiền học trò.

Hiện nay, Tại khu Nam Hải, Bình Châu, TP Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông có một ngôi nhà cổ, trên biển đề “Quách thị Vịnh Xuân quyền hội”.

Đây chính là nơi ẩn cư của đại sư Quách Phú, trong nhà vẫn treo tranh ảnh của Diệp Vấn, sư phụ mà ông tôn kính suốt đời.

Nguồn: theo Tri Thức Trẻ


Để lại phản hồi

Vĩnh xuân môn võ nội gia quyền

Con đường Vĩnh Xuân

Vĩnh Xuân sẽ thực sự là một môn võ đầy sức mạnh khi được luyện tập theo đường lối của một môn nội gia quyền. Tuy nhiên, nó thường được dạy như là một môn ngoại gia, chỉ có một số ít chỗ truyền dạy môn võ này theo phong cách nội gia.

Với một người bắt đầu học Vĩnh Xuân theo phong cách ngoại gia, họ sẽ học cách chặn các đòn tấn công với than thủ hay bàng thủ. Họ sẽ được dạy cách dùng từng kỹ thuật trong từng tình huống cụ thể. Họ được người hướng dẫn đưa cho một danh sách các kỹ năng, và luyện tập chúng liên tục.

Còn để có thể tập trung vào tính chất nội gia của môn võ này, thì người tập cần phải nghiên cứu sâu về các kỹ năng. Họ cần cảm nhận cơ thể mình, và nhận thức rõ các bộ phận khác nhau. Họ cần học cách thư giãn, thư giãn đến mức mà họ có thể cảm nhận khớp xương của mình di chuyển. Đó mới là phong cách nội gia, nó giúp người tập khám phá cơ thể của mình, khám phá cách cơ thể vận động và tạo ra một thứ sức mạnh khủng khiếp.

Bạn cần phải cảm nhận được cơ thể mình, trước khi bạn có thể kết nối toàn thân với nhau và sử dụng nó để phóng ra một lực khủng khiếp. Vĩnh Xuân nếu không được tập theo đường lối nội gia thì sẽ là một môn võ rất yếu thế (dẫn đến việc phải kết hợp thêm kỹ thuật của môn khác). Bàng thủ là một tư thế rất yếu. Việc tung quyền liên tiếp cũng dễ bị hóa giải và các thế tay thì trông khá vụng về. Các cú đấm có đường quyền ngắn, và chỉ có những người to lớn mới có thể phát ra sức mạnh với những cú đấm như thế.

Nếu một người rèn luyện cơ thể theo phong cách nội gia, họ có thể thư giãn và kết nối các bộ phận cơ thể lại với nhau. Thử nghĩ xem ai có thể đấm mạnh hơn, một người đàn ông to con với cánh tay nặng 40 ký, hay một người phụ nữ nặng 40 ký mà có thể dồn hết trọng lượng của mình vào cú đấm? Với tôi, thì điều thú vị là người có khả năng kết nối các bộ phận trên cơ thể sẽ là người có cú đấm tốt hơn.

Với cách luyện tập ngoại gia, hay các phái cương, thì để tăng cường sức mạnh họ cần phải rèn luyện thể chất rất nhiều. Nhưng với những người luyện Vĩnh Xuân theo phong cách nội gia thì lại khác. Việc luyện tập thể chất có thể gây trở ngại cho việc thư giãn. Sự căng thẳng trong cơ thể sẽ làm giảm khả năng kết nối và tách biệt các khối cơ riêng rẽ với nhau thay vì thống nhất chúng lại thành một thể thống nhất.

Với một người luyện Vĩnh Xuân nội gia, việc rèn luyện với các bài tập, và niêm thủ là cách để tăng cường sức mạnh. Sức mạnh đó không hẳn là sức mạnh theo nghĩa sức mạnh thể chất, mà người tập sẽ có cảm giác thần thái của mình mạnh mẽ hơn người khác. Nếu được, các bạn hãy tìm hiểu về sư phụ Từ Thượng Điền (Chu Shong Tin). Người đàn ông này hiện đã 80 tuổi, và nếu bạn thấy những gì ông ấy có thể làm được, bạn sẽ đồng ý rằng ông ấy rất mạnh mẽ.

Với tôi, ông ấy là hiện thân của 2 tiếng Vĩnh Xuân. Ông ấy đã già và khá là nhỏ nhắn (60kg), nhưng vẫn có thể phóng ra một sức mạnh mà tôi hiếm thấy ở người khác. Điều này cũng khá là phù hợp với truyền thuyết về việc Vĩnh Xuân đã được phụ nữ sáng tạo ra.

Vĩnh Xuân chân chính cần phải được luyện theo phong cách của nội gia quyền, nếu không thì nguồn gốc và tâm pháp của nó sẽ trở thành những lý thuyết vô lý. Một khi người tập đạt được nội lực, và sử dụng tâm trí để tập trung năng lượng, họ sẽ đạt đến sức mạnh thực sự của Vĩnh Xuân.

Tác giả: Phillip Warburton
Nguồn: Wingchunspirit