Đại sư Vương Hương Trai

Ý QUYỀN LUẬN

Tác giả: VƯƠNG HƯƠNG TRAI
Dịch giả: Tuấn Anh

Vai trò quan trọng nhất của đạo quyền thực chất là giải quyết được nhu cầu tạo lập nền tảng tinh thần cho dân tộc, hình thành những kiến thức căn bản về việc lập quốc có tính chất học thuật, tạo nền tảng tư tưởng triết học nhân sinh, đồng thời đạo quyền còn được coi là huyết mạch của hệ thống giáo dục xã hội. Sứ mệnh của đạo quyền là phải giúp cho người học biết tu tâm và bày tỏ tình cảm, thay đổi tâm sinh lý theo chiều hướng có lợi, phát huy được ưu thế vốn có của mình, để tinh thần luôn minh mẫn và sáng suốt, cơ thể luôn khỏe mạnh, thể hiện được ý nghĩa ích nước lợi dân của đạo quyền, tuy nhiên thời gian đầu người ta không coi trọng việc truyền bá kỹ thuật ra đòn. Khi đã hoàn thành được sứ mệnh kể trên thì có thể gọi là “Quyền thuật”, nếu không thì bị coi là những điều dị đoan trái với chủ trương giáo nghĩa chính thống mà thôi. Luyện tập môn quyền lập dị giống như là uống phải thuốc độc, không thể diễn tả hết bằng lời về những tác hại của nó. Với mong muốn đem lại lợi ích cho bản thân và cho mọi người, cùng với tâm trạng luôn cảm thấy đau lòng cũng như không thể nhẫn tâm thờ ơ với những cảnh tai ương mà mình đã tận mắt chứng kiến, bằng những kinh nghiệm tích lũy được trong hơn 40 năm luyện tập võ đạo, học giả đã tích cực nghiên cứu và tìm hiểu ý nghĩa thực sự của đạo quyền, nguyên lý và quy tắc khoa học, tự mình thể nghiệm thực tế để có chứng cứ xác thực, loại bỏ những điều bất lợi, tạo ra bí quyết riêng, giảm bớt nhược điểm và phát huy sở trường, lấy mạnh bù yếu, loại bỏ sự giả tạo giữ lại sự chân thật sinh động, thể hiện được sự am hiểu đạo lý của nhiều phương diện, phát huy được thế mạnh, chính vì vậy mà môn quyền thuật này đã trở thành một trong những môn có sức hút đặc biệt nhất hiện nay, rất nhiều người theo học đã bày tỏ rằng họ cảm thấy rất vui, hạnh phúc và thoải mái khi luyện tập môn quyền thuật này. Chính cái tên “Đại Thành” đã thể hiện rõ đây là môn quyền của tất cả chúng ta, bởi tất cả những người theo học đều nói rằng họ cảm thấy hứng thứ với môn quyền này một cách hết sức tự nhiên, tuy nhiên đó chỉ là những điều chúng ta được nghe kể lại mà thôi. Nhìn vào tình hình thực tế hiện nay, có thể thấy người ta đã đánh giá môn quyền này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc rèn luyện ý chí tinh thần, tình cảm vững bền, tạo sức mạnh tự nhiên cho con người. Nói một cách tổng thể thì môn quyền thuật này giúp con người thích ứng với môi trường xung quanh; Hay nói cách khác, là lấy nguyên tắc nguyên lý của vũ trụ làm gốc, nuôi dưỡng tinh thần viên mãn và cơ thể khỏe mạnh, tạo ý chí vững vàng, hư thực vô định, rèn luyện để có được bản năng xúc giác linh hoạt. Tuy nhiên, chỉ diễn tả bằng lời nói thì sẽ không thể thấy hết được sức mạnh tiềm ẩn, nhưng thể hiện bằng hành động thì chúng ta sẽ cảm nhận được ngay. Ở đây không bàn luận đến những nhà quyền thuật bình thường chỉ biết coi trọng hình thức và phương pháp, sử dụng đường quyền cứng nhắc và thô kệch. Thành thực mà nói do quá coi trọng hình thức và phương pháp, nên những nhà quyền thuật bình thường này đã diễn bài quyền với những động tác rườm rà, dị hình dị dạng, điều đó càng làm thêm tăng tính thô kệch, đối với môn vận động có tính quyết liệt cao mà người truyền dạy sai thì người học cũng sẽ tập sai theo, nhưng điều mà người ta không thể ngờ tới là chính sự vận động đó đã làm tổn thương cơ thể, có thể coi đó là hành động tự sát, bởi thần kinh – tứ chi – khí quản – cơ bắp sẽ bị hủy hoại dần dần, khiến cho người tập cảm thấy chán chường uể oải dẫn đến suy sụp tinh thần. Như vậy có thể nói là môn quyền đó đã hoàn thành sứ mệnh của mình hay không? Tuy nhiên, ở đây học giả không dám nói rằng học môn quyền này là thượng sách, nếu theo luận điểm hiện đại và của thời gian trước đây, thì cũng vẫn có thể khẳng định rằng đây là môn quyền hết sức độc đáo. Hơn nữa, so với thời đại trước thì kiến thức học thuật ở thời đại này đương nhiên phải được nâng lên một tầm cao mới, nếu không thì nó sẽ không thể tồn tại và phát triển được! Đó chính là cở sở để khẳng định rằng môn quyền này thích hợp với việc rèn luyện hệ thống thần kinh và tứ chi, giúp cho người tập có được trí lực dồi dào, bảo vệ và giữ cho cơ bắp luôn khỏe mạnh rắn chắc, khí huyết lưu thông, hô hấp tốt, hơi thở khỏe mạnh, từ đó dần dần tăng cường được sức khỏe, hiệu quả thực tế thể hiện ngay sau khi luyện tập. Về phương pháp học cách tập trung lấy sức lực thì bài viết này chỉ trình bày sơ qua (rậm lời). Tác giả của bài viết này cũng là người đã tham gia luyện tập quyền đạo. Do tuổi cũng đã cao, hơn nữa để đáp ứng như cầu tìm hiểu sâu môn quyền này, nên học giả đã cố gắng sưu tầm những kiến thức có nguy cơ thất truyền được ví như là những dấu chân chim hồng trên tuyết, cùng những ghi chép lộn xộn về những điều mà học giả đã học được thường ngày để viết thành bài này, với mong muốn mọi người sẽ dễ dàng tham khảo và lĩnh hội được những cái hay của môn quyền này. Ngoài ra, với tâm niệm học hỏi tìm tòi tri thức là trách nhiệm và tôn chỉ, những người có đức có tài trong nước đã rất tích cực chỉ bảo và đóng góp ý kiến đối với môn quyền này, hoặc họ đã trực tiếp đến tận nơi để truyền dạy những điều mình biết, bởi họ đều có chung một niềm say mê với với lĩnh vực này, tuy chỉ là một chút hiểu biết nông cạn nhưng họ cũng muốn góp sức mình để môn quyền này ngày càng được hoàn thiện hơn, hy vọng ngày càng có nhiều người theo học với tinh thần khiêm tốn học hỏi để có kiến thức phong phú hơn, một mặt tích cực tìm hiểu tường tận các vấn đề nan giải, mặt khác cố gắng phát huy hết khả năng vốn có của mình, và luôn hi vọng có thể cùng nhau nghiên cứu vào bất cứ thời điểm nào, để tìm tòi và đúc kết được những kiến thức cô đọng nhất, tạo nhiều phúc lợi và nâng cao trình độ thể dục thể thao cho mọi người dân, nếu không thực hiện được những mong muốn bức thiết này, thì họ cảm thấy công việc mà họ đã làm không giá trị gì cả. Tuy nhiên, nếu hiệu quả nâng cao không được như ý muốn thì cũng sẽ không làm ảnh hưởng đến tinh thần, hoặc làm giảm trí lực của thế hệ chúng ta. Môn học thuật này lấy tiêu chí nhân loại cùng sở hữu làm nền tảng căn bản, vậy thì làm sao mà có thể giữ bí quyết cho riêng mình? Cho nên học giả không sợ nội dung sơ sài, mà cố gắng tận dụng hết vốn kiến thức của mình để viết thành bài này. Tuy nhiên, do khả năng có hạn cho nên không thể trình bày được hết những nét đặc sắc tinh vi của môn quyền này. Hơn nữa, những ghi chép bằng tay khó có thể giúp cho người đọc hình dung được nội dung tỉ mỉ hàm chứa trong đó, với tâm niệm thuật lại chi tiết những điều mà mình suy ngẫm, mong mọi người đọc được một điều thì suy ngẫm ra thành nhiều điều (đọc ít hiểu nhiều). Ngoài ra, với tấm lòng thụ đạo hết sức chân thành cùng với sự nhiệt tình hứng thú hy vọng sẽ tránh được sự công kích của ngôn luận.

Hà Bắc – Bác Lăng, Vương Hương Trai.

1. Khái quát tình hình luyện tập quyền đạo

Trong những thế kỷ gần đây đại đa số người tập quyền luôn có ý phơi bày sự rắn chắc khác thường của cơ bắp để cho mọi người biết rằng mình là người biết chơi thể dục thể thao. Nhưng điều mà họ không ngờ tới là chính hiện tượng phát triển khác lạ đó đã gây trở ngại cho lĩnh vực y tế, và đối với những người hoạt động trong lĩnh vực này thì họ cho rằng môn quyền đó thực sự không có tác dụng gì hết, đây cũng là điều mà các nhà sinh lý học cấm kị nhất, họ coi sự vận động đó không có giá trị gì cả. Trong những năm gần đây, trên một số tờ báo đã đăng tải những bài viết chỉ trích vấn đề trên, tuy có một số bài viết của một số người hiểu lý lẽ thông thường bày tỏ sự đồng tình, xong đại đa số vẫn cho là dung tục ngu muội, nhẫn tâm gây ảnh hưởng xấu đến lý tưởng tốt đẹp, đặc biệt là nói liều, bêu xấu con người, không thể nói lên được sự thật, cuối cùng không trách khỏi sự chê trách của nhiều người. Nói chung từ trước cho đến nay học giả đã tích cực sưu tầm những kiến thức có nguy cơ bị thất truyền (tuyệt học) để mưu cầu phúc lợi cho nhân loại, chính những nhân sĩ luôn trung thành với tư tưởng chính thống và sự thông minh tuyệt đỉnh đã thông cảm với những hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội từ trước cho đến nay, mặc dù tiêu chuẩn thấp nhưng họ vẫn muốn xem nó sẽ tiếp diễn như thế nào. Vì sự tồn tại lâu dài của đạo quyền, họ thực sự không dám đề cập đến cái riêng mà chỉ hy vọng những người có đức có tài trong nước hiểu và đánh giá đúng về nó.

Đạo quyền được bắt nguồn từ việc áp dụng hình dáng và ý nghĩa tương tự với cách thức vật lộn đọ sức của loài cầm thù, nhưng đã được phát triển và tiến hóa dần, kết hợp sử dụng yếu tố tinh thần để thể hiện tất cả các mô phạm phép tắc chuẩn mực, vì vậy các kỹ thuật của môn quyền này cơ bản đã được hình thành ngay từ đầu. Tuy nhiên, các võ sư thời cận đại lại tạo hình không giống như vậy, họ phát triển môn quyền theo xu hướng có lợi cho tinh thần cũng như ý chí tình cảm của người tập. Theo cách nói của người xưa: “Dùng lực thì phải chậm rãi và chắc chắn, dùng ý thể hiện sự linh hoạt uyển chuyển”, vì vậy mà việc tìm tòi thử nghiệm thực tế để tạo ra nét tự nhiên là điều cần thiết phải làm. Tuy nhiên, dùng lực mà làm cho cơ bắp trì trệ không phát triển tốt, thì xương cốt của cơ thể cũng sẽ không linh hoạt, bởi vậy những người làm công tác y tế không hưởng ứng điều này. Về phương diện võ thuật mà nói, nếu dùng lực thì sẽ có lúc hết sức lực, dùng pháp tức là đã thể hiện hết thuật pháp, có phương pháp lại chỉ thể hiện cục bộ, vì vậy sau này người ta đã sáng tạo thêm, để chứng tỏ mình không học theo bản năng. Khi không thể thống nhất được tinh thần, mà lại không dốc được hết sức lực thì sẽ không thể làm theo cách hô ứng lực của vũ trụ, khi đó tinh thần của người tập bị hạn chế trong một phạm vi nhất định, động tác thể hiện trông giống như là giẫm chân tại chỗ và đang do dự không muốn tiến lên. Tuy nhiên, dùng lực vẫn được coi là cách đề kháng chống cự, mà sự đề kháng chống cự lại phát sinh khi sợ kẻ địch tấn công, như vậy khi không thể chấp nhận sự tấn công của đối phương, thì liệu bạn có thể không nghĩ cách tấn công đối phương hay không? Điều này cho thấy tác hại của việc chỉ dùng lực thực sự là rất lớn. Cho nên phải biết cách kết hợp sử dụng lực (sức lực) và ý (ý chí) cùng thời điểm để tạo ra một nguyên khí tốt cho bản thân, bởi đây là hai nhân tố căn bản bổ trợ cho nhau, dùng ý tức là dùng lực, bởi ý tức là lực. Tuy nhiên, không thể chỉ dùng lực để làm cho máu ngưng tụ ở các cơ bắp, mà phải biết dùng ý chi phối để tất cả các cơ bắp luôn ở trạng thái thả lỏng bình thường, nếu không làm được như vậy thì các cơ bắp của bạn mãi mãi sẽ không thể co về trạng thái tự nhiên được, khi đó bạn cũng sẽ không còn sức lực để giữ cho cơ thể khỏe mạnh. Một khi không thể giữ được sức sống tự nhiên, thì việc tập dưỡng sinh hay ứng dụng các kỹ thuật khác cũng đều không có tác dụng. Bạn phải biết là ý chí được tạo ra bởi chính trạng thái tinh thần của bạn, sức lực cũng thay đổi theo ý chí, ý được coi như là “tướng soái” của lực, lực là “quân” của ý, khi ý căng lực giãn, cơ bắp được thả lỏng linh hoạt, dâu tóc mọc nhiều, thì sinh lực được coi là mũi nhọn tiên phong trong việc tạo ra những điều đó, tuy nhiên không phải tự nhiên mà trong ý lại có lực. Chính vì vậy mà hai mươi năm trước môn quyền này đã từng được gọi với cái tên “Ý quyền”, người xưa lấy chữ “Ý” để thể hiện thần sắc – tinh thần, tức là môn quyền này rất coi trọng trạng thái ý chí và tinh thần, bởi nó đã thức tỉnh rất nhiều người, bạn có thể xem hình thức là biết được nội dung (trông mặt mà bắt hình dong), giác ngộ được nhiều phương diện, đây chính là xu thế phát triển chính hiện nay, nhưng các võ sư bình thường lại hay quan tâm nhiều đến ý kiến cá nhân, có thể coi đây là một thói xấu lâu ngày khó sửa. Đại đa số không biết bình tĩnh xử lý vấn đề theo hướng lấy mạnh bù yếu, giảm bớt nhược điểm và phát huy sở trường, nghiên cứu thảo luận những vấn đề không đúng còn tồn tại, mà họ lại cứ bảo thủ giữ nguyên ý kiến của mình, vậy thì làm sao mà có thể làm được điều gì tốt hơn? Và như vậy thì họ sẽ không biết mình được cái gì và mất cái gì, đó thật sự là một điều đáng tiếc. Hơn nữa khi trí lực vẫn còn mà lại không cố gắng theo đuổi, thì sẽ khiến cho ý nghĩa chân chính của đạo quyền bị mai một theo, hy vọng mong muốn chân thành của cá nhân người viết bài này như là một hồi chuông làm thức tỉnh tinh thần đã bị tê liệt, giúp họ lấy lại tinh thần, dũng mãnh hơn để tiếp tục tiến bước.

2. Luận về tín điều và quy tắc

Việc học quyền không chỉ góp phần rèn luyện tứ chi, mà nó còn ẩn chứa nhiều ý nghĩa hết sức quan trọng. Xét về phương diện truyền thống, thì trước tiên người học phải có đức hạnh, tiếp theo là phải nghiêm túc tuân thủ các tín điều, ví dụ như: Tôn sư, kính trên, coi trọng tình thân, có hiếu đối với cha mẹ, tín nghĩa, nhân ái… Tất cả những đức tính này đều phải có ở người học. Ngoài ra, người học cũng cần phải có sự nhiệt thành của người hiệp khách khắc cốt ghi tâm lời dạy của phật, luôn có ý chí tích cực học hỏi mọi người, nếu như không có đủ điều kiện các điều kiện trên thì sẽ không được gọi là võ sư. Chí ít cũng phải có khí phách, tính cách thật thà chất phác, kín đáo thâm trầm, có tinh thần kiên nhẫn và quả quyết, biết bày tỏ tình cảm với mọi người xung quanh, có tư chất mẫn tiệp (nhanh nhẹn) và dũng cảm, đặc biệt là phải đáp ứng đủ điều kiện căn bản của người học, nếu không thì khó có thể được truyền dạy. Khi đã đáp ứng được điều kiện, thì việc truyền dạy theo trình tự cũng là một vấn đề tương đối nan giải. Trước đây, khi các bậc tiền bối truyền dạy cho một người, thì phải thận trọng xét đi xét lại, do nhân tài hiếm, nên họ không dám coi nhẹ vấn đề tuyển dụng. Theo trình tự truyền thụ, thì trước hết phải lấy tứ dung ngũ yếu làm gốc. ví dụ như: Đầu thẳng, mắt nhìn thẳng, thần thái trang nghiêm, tiếng tịnh, ngoài ra truyền bí quyết được cô đọng trong 5 chữ: “Kính – Thận – Ý – Thiết – Hòa”. Sau này 5 chữ này được viết thành bài ca với ý nghĩa như sau:

Tập quyền ký nhập môn, thủ yếu tôn sư thân, thượng hữu tu trọng nghĩa, võ đức canh cẩn tôn. (Khi đã muốn nhập môn quyền, thì trước hết phải biết đạo tôn sư, trọng tình thân, coi trọng tình nghĩa bạn bè, càng phải biết rèn luyện và giữ vững đạo đức tác phong của người theo học quyền đạo).

Động tắc như long hổ, tịnh do cổ phật tâm, cử chỉ nghi cung thận, như đồng hội đại tân. (Động tác như rồng hổ, tâm tĩnh như tâm phật, cử chỉ phải cung kính cẩn trọng)

Cung tắc thần bất tán, thận như thâm uyên lâm, giả tá vô cùng ý, tinh mãn hỗn nguyên thân. (Thể hiện sự cung kính từ đáy lòng, cẩn trọng như khi sắp đi đến gần vực sâu, nhưng bề ngoài lại phải vờ như không có ý gì, có tinh lực dồi dào nhưng lại phải giả vờ hồ đồ).

Hư vô cầu thực thiết, bất thất trung hòa quân, lực cảm như thấu điện, sở học dữ nhật thâm. (Tìm kiếm sự chân thực trong cái hư vô, trung hòa cân bằng các mặt, khả năng cảm nhận nhanh như luồng điện, đã chú tâm theo học thì nhất định sẽ có sự tiến bộ rõ rệt).

Vận thanh do nội chuyển, âm vận giống long ngâm, cung thận ý thiết hòa, ngũ tự bí quyết phân. (Chuyển đổi giọng nói từ bên trong, âm thanh ý vị giống như long ngâm, cung kính cẩn trọng để có sự thân thiết hòa thuận, thông hiểu bí quyết 5 chữ).

Kiến tính minh lý hậu, phản hướng thân ngoại tầm, mạc bị pháp lý câu, canh vật trung học nhân. (Khi đã có được các đức tính cần phải có và chân lý có liên quan, tiếp tục học hỏi người khác, tránh rơi vào vòng lao lý, càng không nên chấm dứt việc học hỏi người khác).

4. Luận về đơn trọng và không cứng nhắc mô phỏng

Ở đây chúng ta sẽ luận về nguyên tắc nguyên lý của đạo quyền, không bàn về những động tác luyện tập hàng ngày, mà chỉ đề cập đến những vấn đề nằm trong khuôn khổ của môn võ thuật, tức là cách giữ cân bằng cơ thể, không được tạo dáng lệch. Nếu có một số động tác hơi bị mất thăng bằng, thì tức là bạn đã cứng nhắc mô phỏng giống hình dáng thực tế, khi đó lực cũng bị phá vỡ. Tất cả những yếu tố: Thần – hình – lực – ý đều không được bắt chước phỏng theo y nguyên, một khi bạn đã bắt chước y nguyên thì chỉ mang tính chất phiến diện, như vậy sẽ không đáp ứng được yêu cầu của phương diện y tế, học giả nên ghi nhớ điều này. Bạn phải học cách lấy sự thăng bằng nhưng lại không được quá cứng nhắc. Hơi cứng nhắc thì lại dễ phạm phải bệnh “song trọng”, tất nhiên cũng không được phép quá linh hoạt, nếu quá linh hoạt thì dễ tạo ra vẻ bề ngoài hào nhoáng nhưng thực chất thì lại không có tác dụng gì, điều này được ví như là cây có hoa nhưng không có quả. Cụ thể là phải tạo cảm giác thư thái để thực hiện những động tác thay đổi thích hợp, khi tạo lực cũng không được phép làm gián đoạn điều này, như vậy thì lực sẽ không bị mất đi. Song trọng không phải chỉ có hai bộ phận chân, mà nó còn có ý nói đến các bộ phận như đầu – tay – vai – khuỷu tay – đầu gối – hông và các khớp lớn nhỏ đều có độ căng giãn khác nhau khi hơi có một chút lực tác động đến, đây chính là sự khác biệt của yếu tố hư thực. Ngày nay đại đa số các võ sư đều từ hướng đơn trọng phiến diện đi theo hướng song trọng tuyệt đối, tuy nhiên phương thức song trọng tuyệt đối dễ bị hủ bại. Còn đối với người học đơn trọng và song trọng, học càng lâu thì càng thấm. Nói về điều này, những bài luận do chính các võ sư ngày nay biên soạn cũng có chỗ chưa được thỏa đáng, huống hồ là tác giả, trong phần này tác giả chỉ muốn đề cập đến yếu tố lộ hình phạm quy mà làm phá hỏng cái cốt cách. Không nên cứng nhắc mô phỏng, bởi điều đó sẽ làm cho các động tác không có sự gắn kết với nhau, dù cho bạn biết sử dụng thành thạo bí quyết đơn trọng đi chăng nữa, nếu không có khả năng lĩnh hội hiểu ý thì cũng không khác gì việc bạn không biết cách sử dụng phương pháp song trọng. Nếu các động tác không được thực hiện một cách tự nhiên thì bạn cũng sẽ cảm thấy không thoải mái, xương cốt không linh hoạt, đây là điều không thể tránh khỏi khi áp dụng phương pháp cứng nhắc, bạn không thể tùy cơ ứng biến với mọi tình huống, hơn nữa lại không có phương hướng thay đổi, như vậy càng không thể phát huy được tác dụng như ý muốn. Khi bạn cho rằng mình đã thể hiện thần và ý hết sức tự nhiên, mà vẫn không ứng dụng được hết khả năng của xúc giác, thì vẫn không có đủ chứng cứ để chứng minh bạn đã thể hiện tự nhiên. Ví dụ khi hai bên quyết đấu, cái lợi cái hại sẽ thấy ngay trước mắt, nếu không cẩn trọng thì chỉ một chút sơ xuất nhỏ cũng sẽ gây ra tai nạn đáng tiếc, khi đã tiếp cận mà vẫn chưa có xúc giác, thì tất nhiên sẽ không thể ứng phó ngay được, sau khi giải quyết xong tình huống đó bạn cũng sẽ lại không biết lúc nào sử dụng động tác nào thì thích hợp, thì đó gọi là cách ứng phó tình huống tự nhiên, bản năng của bạn sẽ tự động bộc phát để giúp bạn ứng phó tình huống.

5. Thể nghiệm tính thực hư trong sự trừu tượng

Phương pháp nhập môn quyền chính xác được kết tinh trong quá trình vận dụng đồng nhất các yếu tố thần – hình – ý – lực. Loại hình vận dụng này áp dụng những thứ vô hình không thể nhìn thấy được cũng không thể nghe thấy được, vô hình còn gọi là vô tượng. Luận theo phương thức hữu hình thì thế của nó như là lá cờ bay phấp phới trong không trung, duy chỉ có lực của gió là có thể phát huy được tác dụng, hay còn gọi là sự ứng hợp với không khí; Lại ví như cá bơi ở những khu vực có sóng, bị sóng đánh nhấp nhô và mất phương hướng, lúc này cơ quan thính giác của nó đóng vai trò xúc giác để tìm cách bơi ngang hay bơi dọc. Một mặt cùng vận động theo sự vận động chung, mặt khác bình tĩnh ứng phó với tình huống bất ngờ. Phải lấy cái hư vô để suy đoán cái hữu hình, cũng có thể lấy cái hữu hình để phỏng đoán cái vô hình, nói theo cách nói của phật giáo “Vô vi mà lại hữu vi” (cứ để mọi việc thuận theo tự nhiên, không phải làm gì cả mà vẫn có triển vọng), “Vạn pháp giai không, tức là thực tượng” (trăm phương nghìn kế cũng như không, tức là cứ để hình ảnh thực). Ví dụ như khi tìm hiểu đầu mối câu chuyện về việc làm tranh của dòng tộc Hoàng Tân Hồng (Nghê Hoàng) thì được biết các nét vẽ thanh tú, ẩn chứa trong đó là sự nhẹ nhàng êm ái đặc biệt, tính cơ động và khả năng tạo hứng thú đều nằm trong cái thần thái vô hình đó, nhưng vẫn có thể cảm nhận được ý nghĩa của nó, cho nên khi tập mà đứng trước gương thao tác, thì e rằng bạn sẽ không tìm ra được các hình thái cần thiết, như vậy là ý nghĩa nội hàm không có mà thần thái cũng không còn.

Khi tập cần phải tưởng tượng là mình đang phải đối đầu với kẻ địch ở trong một khoảng không gian chỉ vẻn vẹn có 3 thước ngoài 7 thước trong, xung quanh có nhiều lưỡi gươm đao của kẻ địch, hoặc tưởng tượng ra cảnh đang có con rắn độc bò đến nên mình phải có khí phách dũng cảm, không được sợ hãi để có thể ứng phó kịp thời, cầu cái thực trong cái hư để có thể sinh tồn. Khi có nhiều kẻ địch, thì nên cầu cái hư trong cái thực, muốn làm được như vậy thì hàng ngày phải tích cực luyện tập và thể nghiệm, phải có khả năng kiềm chế tình cảm. Nói tóm lại, phải luôn có tinh thần và ý chí xung mãn, đồng thời phải biết cách thoát khỏi tất cả yếu tố làm bạn phân tâm.

Bạn phải nhớ kỹ là khi tập thì phải tập từ từ, nhưng tinh thần thì lại phải có sự nhạy bén, đối với một số động tác lấy sức, vừa biết cách tính toán cụ thể vừa phải biết cách ứng phó kịp thời, trong ngoài phải có sự liên kết với nhau, tính chất hư thực bổ trợ cho nhau, nhưng tất cả đều phải nhất quán. Lúc nào cũng phải có tinh thần ứng phó tốt, thì sự nhạy bén của bạn cũng sẽ được rèn luyện và khi cần thiết nó sẽ bột phát một cách tự nhiên. Khi mới học, cần phải học cách đứng thẳng như cột, dần dần chuyển sang luyện tập những động tác tiếp theo. Nói tóm lại thần – hình – ý và lực phải tạo thành một thể nhất quán, đồng thời cũng phải kết hợp tứ tâm (đỉnh tâm, bổn tâm, thủ tâm, túc tâm), thần kinh thống nhất, động mà như không động (khi mới vận động phải đem lại cái cảm giác như không vận động), phải cẩn trọng không để gây ra tình trạng không hòa hợp, tứ chi xương cốt cũng cùng vận động, cho nên không được thực hiện động tác quá câu nệ, cũng không được dừng lại đột ngột, mà phải tiếp tục kết hợp chặt chẽ với bầu không khí xung quanh, phát huy tác dụng của yếu tố căng chùng ở các động tác lấy sức. Tất cả những yếu tố này bạn hoàn toàn có thể thực hiện được (ngõ hầu có thể thực hiện được).

6. Nguyên tắc chung

Quyền bổn phục ưng, linh không tùng đằng, bình dị cận nhân, lý thú tùng sinh. Nhất pháp bất lập, vô pháp bất dung, quyền bổn vô pháp, hữu pháp dã không (Đạo quyền vốn dĩ được nhiều người quan tâm, bởi nó đem đến cho người ta sự linh hoạt và dẻo dai, tạo được vẻ hiền hòa dễ gần, tinh thần và lý trí tràn đầy, nếu chỉ có một cách thì không tồn tại lâu được, nhưng cũng còn hơn là không có cách gì,

đạo quyền vốn vô pháp mà lại như có pháp).

Tồn lý biến chất, đào dã tính linh, tín nghĩa nhân dũng, tất tại kỳ trung. Lực nhậm tự nhiên, kiểu kiện do long, tổ nạp linh nguyên, thể hội công năng (Luôn có lý trí thay đổi, dốc hết sức tôi luyện tinh thần – tính tình – tình cảm, sống nhân nghĩa, hòa nhã và có uy tín. Sức mạnh sẽ đến tự nhiên, khỏe mạnh cường tráng như long thần, phản ứng nhanh nhạy, thể hiện được công năng).

Bất tức bất ly, lễ nhường kiêm cung, lực hợp vũ trụ, phát huy lương năng. Trì hoàn đắc khu, cơ biến vô hình, thu thị thính nội, rèn luyện thần kinh. (Không thân cũng không sơ, phải nhường nhau theo lễ nghi, tỏ sự khiêm tốn và cung kính, hòa mình với trời đất, phát huy năng lực. Ứng biến vô hình, nghe nhìn và suy xét, rèn luyện thần kinh).

Động như nộ hổ, tĩnh tự triết long, thần do vụ báo, lực nhược tê hành. Súc linh thủ mặc, ứng cảm vô cùng. (Khi ở trạng thái động thì có khí thế bừng bừng dữ dội, khi ở trạng thái tĩnh thì như rồng ẩn, thần như báo beo, lực mạnh như con tê giác. Tích trữ và nuôi dưỡng tính linh,

giữ cho tâm can luôn bình thản, sẽ có khả năng cảm ứng vô cùng).

7. Bài ca về bí quyết (dịch sang âm hán việt)

Có rất nhiều phương pháp được người xưa viết thành bài ca, để làm công cụ truyền dạy, có sự lược bớt hoặc thay đổi tuy nhiên vẫn giữ được ý chính, sau khi biên tập bài ca về bí quyết đặc biệt này, tôi xin cung cấp để học giả tham khảo:

Quyền đạo cực vi tế, vật dĩ tiểu đạo thị, khai bích thủ trọng võ, học thuật thủy vu thử.

Đương đại đa thất truyền, hoang đường vô biên tế, quyền đạo cơ phục ưng, vô trường bất hội tập.

Thiết chí xướng quyền học, dục phục cổ nguyên thủy, minh tâm cứu lý tính, kỹ kích nãi kỳ thứ.

Yếu tri quyền chân tủy, thủ do chiến trang khởi, ý tại vũ trụ gian, thể nhận học thí lực.

Bách hài xanh quân hằng, khúc chiết hữu diện tích, phỏng phất khởi vân đoan, hô hấp tịnh trường tế.

Thư thích canh du dương, hình tượng nhược phong trí, tuyệt duyên bính tạp niệm, liễm thần thính vi vũ.

Mãn thân không linh ý, bất dung niêm hào vũ, hữu hình tự lưu thủy, vô hình như đại khí.

Thần miên do như túy, du nhiên thủy trung dục, mặc đối hướng thiên không, hư linh tu định ý

Hồng lư đại dã thân, đào dung vật bất kế, thần cơ tự nội biến, điều tức thính tịnh hư

Thủ tịnh như sở nữ, động tự triết long cử, lực tùng ý tu khẩn, mao phát thế như kích

Cân nhục tù dục phóng, chi điểm lực cổn ti, la hoàn lực vô hình, biên thể đàn hoàng tự.

Quan tiết nhược cơ luân, sủy ma ý trung lực, cân nhục tự kinh sà, lữ bộ phong quyển tịch.

Tòng hoàng khởi cự ba, nhược kình du hoàn thế, đỉnh thượng lực không linh, thân như thằng điếu hệ.

Lưỡng mục thần ngưng liễm, lưỡng nhĩ thính tịnh cực, tiểu phúc ứng thường viên, hung gian vi hàm súc.

Chỉ đoan lực thấu điện, cốt tiết phong lăng khởi, thần thái tự viên tiệp, túc đạp như miêu cự.

Nhất xúc tức bạo phát, tạc lực vô đoạn tục, học giải mạc hiếu kỳ, bình dị sinh thiên thú.

Phản anh tầm thiên lại, khu nhu tự đồng dục, vật vong vật trợ trường, thăng đường tiệm nhập thất.

Như nhược luận ứng địch, quyền đạo vi mạt kỹ, thủ tiên lực quân chỉnh, khu nữu bất thiên ỷ.

Động tĩnh hỗ vi căn, tinh thần đa ám thị, lộ tuyến đạp trọng tâm, tùng khẩn bất hoạt trệ.

Hoàn chuyển cẩn ổn chuẩn, câu thác hỗ dụng nghi. Lợi độn trí hoặc ngu, thiết thẩm đối phương ý.

Tùy khúc hốt tựu thân, hư thực tự chuyển dịch, súc lực như cung mãn, trước địch tự điện cấp.

Ưng thiêm hổ thị uy, túc oản như đâu nê, cốt lạc dữ long tiềm, hỗn thân tận tranh lực.

Súc ý khẳng nhẫn ngoan, đảm đại tâm canh tế, phách triền toàn quả hoàng, tiếp xúc sủy thời cơ.

Tập chi nhược hằng cửu, bất kỳ tự nhiên chí, biến hóa hình vô hình, chu hoàn ý vô ý.

Sất trá tẩu phong vân, bao la tiểu thiên địa, nhược tòng tích tượng sánh, lão trang dữ phật thích.

Ban mã cổ văn chương, hữu quân chung trương tự, đại lý vương duy họa, huyền diệu tương tự.

Tạo nghệ hà năng nhĩ, thiện dưỡng ngô hạo khí, tổng chi tận trừu tượng, tinh thần tu thiết thực.

Hết phần 1 (Còn tiếp)

Nguồn: http://www.thaicucquyen.com

Advertisements