Thiếu Lâm Ngũ Hình Quyền

Đối với người Trung Hoa, võ thuật cổ truyền đã trở thành Quốc kỹ và được nâng lên hàng Quốc học. Trong nền võ thuật cổ truyền đó, như mọi người đều biết, võ công Thiếu Lâm giữ vai trò rất lớn. Ngũ Hình Quyền là một bộ phận trọng yếu trong toàn bộ kỹ thuật chính truyền của Thiếu Lâm. Ngũ Hình Quyền bao gồm những gì, hình thành ra sao, đặc điểm thế nào…? Bài tìm hiểu này cố gắng giải đáp một phần những thắc mắc trên. Hầu hết luận cứ đưa ra trong bài tìm hiểu này đều dựa theo tài liệu của hai chuyên gia về võ học Trung Hoa và Mỹ là Wong Deoc Fai và Jane Hallender.

Từ Đạt Ma sư Tổ tới bộ ba Giác Viễn, Lý Tẩu, Bạch Ngọc Phong

Võ thuật cổ truyền Trung Hoa đặc biệt dựa trên sự nghiên cứu thói quen và cách thế chiến đấu của loài vật. Trải nhiều thế kỷ, đặc tính của các loài chim, rắn, thú rừng và ngay cả côn trùng đã được mô phỏng, rút tỉa tinh hoa, tái tạo thành kỹ thuật chiến đấu cho con người. Khi có cơ hội hoàn thiện hoặc chuyển hóa một hệ thống võ công các nhân vật võ lâm đã mau mắn thêm thắt các kỹ thuật và tinh thần của những con vật gợi hứng cho việc chuyển hóa. Nhiều cách thế còn mang chính ngay tên của những con vật được mô phỏng.

Cuộc nghiên cứu về loài vật tác động lớn vào nền võ thuật cổ truyền Trung Hoa là cuộc nghiên cứu dẫn đến môn Ngũ Hình Quyền, một bộ phận chính thống trong võ công Thiếu Lâm có ảnh hưởng đậm đà đối với sự phát triển của nhiều môn võ khác.

Vào giữa thế kỷ thứ sáu, trong thời Nam Bắc triều, Phật gia đã đứng vững ở Trung Hoa. Một nhà sư Ấn Độ là Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma), sau một cuộc du hành dài dừng chân ở chùa Thiếu Lâm trên núi Tung Sơn, tỉnh Hà Nam, trở thành vị tổ sư thứ nhất của Thiền Môn Trung Hoa. Qua chín năm liền tĩnh tọa trầm tư, ở độ tuổi 76, Bồ Đề Đạt Ma bắt đầu chỉ dẫn cách rèn luyện thân thể cho các nhà sư Thiếu lâm. Bồ Đề Đạt Ma không phải là người sáng lập Thiếu Lâm tự và võ công Thiếu lâm. Ông chỉ đơn giản là người sống tại đây và dạy cho các nhà sư cùng thời. Khi trụ trì chùa Thiếu Lâm, Đạt Ma nhận thấy các nhà sư sống trong những điều kiện thực tế rất khắc nghiệt. Hầu hết đều không đủ sức khỏe thể chất để hoàn thành những công việc lao động cần thiết cho việc bảo dưỡng tăng viện và trong trường hợp bị cướp bóc tấn công cũng không có ngay cả khả năng tự vệ. Ông bèn quyết định chỉ cho mọi người những bài tập nhắm hai mục tiêu rõ rệt là tăng cường thể lực và nắm vững kỹ thuật tự vệ căn bản. Những bài tập này bao gồm trong ba pho sách còn được lưu truyền là La Hán Thập Bát Thủ, Dịch Cân Kinh và Tẩy Tủy Kinh. Do ảnh hưởng lớn lao của các pho sách này trong giới võ lâm, Bồ Đề Đạt Ma được coi là cha đẻ của võ công Trung Hoa. Thực ra, trước khi Bồ Đề Đạt Ma xuất hiện, võ thuật đã phổ biến trong giới binh gia. Các chiến binh đều được truyền dạy cách thế chiến đấu, đặc biệt là về kiếm và thương pháp. Kiếm và thương là những loại võ khí thiện dụng thuở đó. Tất nhiên đối với dân thường thì việc luyện võ vẫn còn hạn chế.

Nhà Đường (618-907) là một thời kỳ chiến loạn trong lịch sử Trung Hoa. Võ thuật, do đó, nở rộ cùng với sự triển khai thêm nhiều loại vũ khí. Các nhà sư Thiếu Lâm được yêu cầu truyền dạy võ thuật để giúp ngăn chống các mối đe dọa đối với triều đình, đồng thời che chở cho các tầng lớp thượng lưu. Việc rèn luyện tập võ tại chùa Thiếu lâm vừa có cơ hội bành trướng ra ngoài lại vừa có điều kiện gạn lọc để lộ rõ các nét đặc sắc. Nối tiếp nhà Đường là một giai đoạn phát triển đầy tính sáng tạo của nền võ thuật Trung Hoa. Thái tổ Triệu Khuôn Dẫn, vị hoàng đế khai sáng nhà Tống, đã nổi tiếng trong võ lâm do việc khởi lập môn Thái Tổ Trường Quyền. Đối với nhiều người, Thái Tổ Trường quyền chính là hệ thống ti tổ của nhiều môn võ hiện nay. Vào thời Nam Tống, danh tướng Nhạc Phi góp thêm vào lịch sử võ thuật cổ truyền Trung Hoa các kỹ thuật mới về sử dụng thương và sử dụng tay không trong chiến đấu. Nhiều thế hệ nhân vật võ lâm đã ứng dụng và phát triển kỹ thuật đánh tay không của Nhạc Phi để hình thành môn võ mang tên là Hình Ý Quyền. Đây là sự khởi đầu cho Nhu phái và Nội gia phái trong võ thuật cổ truyền Trung Hoa.

Tới đời Minh thì võ thuật cổ truyền Trung Hoa gần như đạt mức toàn thịnh. Vào thời khoảng này, đạo sĩ Trương Tam Phong nhận thấy rằng trong võ thuật cổ truyền để phát ra các đòn đánh, người ta thường phải tận dụng sức mạnh cương mãnh. Người luyện võ hao phí quá nhiều sức lực, tự làm suy kiệt mình đến mức có thể đứt hơi ngay cả trong một cử tập đơn giản. Trước mắt Trương Tam Phong, cách thế này ngược hẳn với tinh thần Đạo Giáo và các nguyên tắc tăng cường sức khỏe. Vì vậy ông điều phối các bài tập thể dục và võ thuật thành một lối tập thông chuyển nhu nhuyễn nhằm giúp triển nở các nội quan, cơ bắp và xương cốt. Nguyên tắc chủ đạo trong hệ thống tập luyện của Trương Tam Phong là sự thư giãn tự nhiên. Trương Tam Phong còn tin rằng có thể kết hợp hữu hiệu hai cách rèn luyện nội lực và ngoại lực để đạt tới môn võ công hoàn hảo. Ông đặc biệt hướng về sự mềm dẻo trong mục tiêu tự vệ và hướng về những nắm đấm cương mãnh trong trường hợp tấn công. Lý thuyết này hình thành môn Thái Cực Quyền và đưa tới sự phát triển Nhu phái trong võ thuật cổ truyền Trung Hoa. Một trong số những nguyên tắc quan trọng nhất thuộc giáo trình của Trương Tam Phong là tấn công đúng vào lúc nguyên lực của đối thủ đã suy kiệt và tiếp lực chưa kịp phát sinh. Trong hệ thống Nhu phái Đạo gia, lý thuyết này đã chiếm được ưu thế và thúc đẩy võ thuật cổ truyền Trung Hoa chuyển hóa quyết liệt.

Không lâu sau đó, võ lâm phân thành hai phái Cương, Nhu. Võ công Thiếu Lâm được coi là Ngoại gia Cương phái hầu như chìm hẳn xuống ngay khi các kỹ thuật thuộc Nội gia Nhu phái trở nên phổ cập.

Cuối đời Minh (1368-1644), một nhà sư Thiếu Lâm là Giác Viễn đưa võ công Thiếu Lâm vào một cuộc chuyển hướng. Trước khi xuất gia, Giác Viễn là một cao thủ cả về Quyền lẫn Kiếm. Khi tới Thiếu Lâm tự, ông nhận thấy võ công Thiếu Lâm thiên về Ngoại lực phải sử dụng quá nhiều sức để chống với sức. Ông liền trù hoạch sắp đặt lại cho thích hợp với một cấu trúc cân bằng giữa nội và ngoại lực. Ông du hành khắp xứ, thâu thập nhiều loại võ công còn khả dụng gạn lọc đưa vào hệ thống võ công Thiếu Lâm mới của mình.

Khi Giác Viễn tới Lan Châu, ông gặp một nhân vật võ lâm là Lý Tẩu. Lý Tẩu giới thiệu Giác Viễn với một nhân vật võ lâm nổi tiếng đương thời là Bạch Ngọc Phong.

Cuối cùng, cả ba trở về Thiếu Lâm Tự và lập ra Ngũ Hình Quyền.

Võ công nguyên thủy Thiếu Lâm chỉ gồm 18 thế theo La Hán thập bát Thủ. Bạch Ngọc Phong dựa vào các thế này sáng tạo thành 128 thế, chia ra làm 5 loại mô phỏng đặc tính của 5 con vật khác nhau là Hổ, Báo, Hạc, Xà (rắn) và Long (rồng). Tất nhiên ai cũng có thể thấy, 5 con vật này đều có những nét đặc sắc phi thường nổi bật và hoàn toàn khác biệt nhau.

Theo Bạch Ngọc Phong mọi người đều phải phát triển theo 5 phương diện sức mạnh theo cách thế phát triển toàn thân để hoàn thiện toàn thân. Năm phương diện đó là Lực, Cốt, Tinh, Khí và Thần (physical strength, bone, libido, “chi”, internal spirit).

Thiếu Lâm Ngũ Hình Quyền được sáng tạo để giúp phát triển cả 5 phương diện sức mạnh kể trên.

Long Hình Quyền

Con rồng Trung Hoa không tương quan với con rồng phun lửa Tây Phương và loại khủng long thời tiền sử. Nó chỉ đích thực là sản phẩm của tinh thần tín ngưỡng và được nhắc trong các kinh sách nhà Phật như một linh vật có toàn năng ẩn hiện, biến hóa.

Theo kinh sách cổ, rồng sống ngoài biển cả tùy theo ý muốn của nó, rồng sẽ hiện ra hoặc biến đi. Người Trung Hoa thường cho rằng rồng có sứ mạng phun nước làm mưa và vào những lúc thực hiện sứ mạng này, rồng sẽ hiện hình trong mây. Thân hình con rồng Trung Hoa tương tự như thân hình loài rắn nhưng có vẩy phủ kín. Chân tay rồng giống như loài rắn mối, phần cuối có vuốt sắc nhọn. Đầu rồng thì gần như đầu rắn.

Võ công Thiếu Lâm phát nguyên từ Phật giáo nên rồng trở thành một ứng viên hoàn hảo biểu thị những nét đặc sắc của Ngũ Hình Quyền. Do mang tên của con vật thần bí này, Thiếu lâm Long Hình Quyền đã vượt quá thế giới thực tế dễ nhận biết của các công phu rèn ngoại lực và xâm nhập thế giới tinh thần của các năng lực nội tại, nhưng dù biểu thị cho nội lực, rồng vẫn đóng góp hữu ích cho việc rèn ngoại lực.

Rồng vốn không có mặt trong thực tế nên nhiều kỹ thuật của rồng chỉ là biến dị những đặc trưng thuộc kỹ thuật của các con vật khác. Chẳng hạn, động tác Long Hình Quyền thường mềm mại và uốn vòng tương tự cử động của loài rắn, dù không hoàn toàn giống.

Tuy nhiên, không hề có sự lẫn lộn giữa Long Hình Quyền và Xà Hình Quyền trong võ công Thiếu lâm. Dù cả hai giống loài rắn mối, nhưng rắn không có chân còn vuốt rồng tạo thành một yếu tố quan trọng trong cách thế chiến đấu của rồng.

Trong khi Xà Hình Quyền gồm nhiều động tác mềm mại uốn khúc và tấn công bằng đầu ngón tay thì Long Hình Quyền được biểu hiện bởi các động tác mềm mại xoay vòng và kết thúc bằng một đòn cương mãnh đột ngột. Rắn chỉ vận dụng riêng Nhu lực còn rồng vận dụng một sức mạnh phối hợp cả Cương lẫn Nhu.

Do con rồng có móng vuốt, gọi là Trảo, nên Long Hình Quyền có một kỹ thuật trảo thủ đôi khi có thể lẫn với cách sử dụng móng vuốt của Hổ. Tuy nhiên, vẫn có thể phân biệt Long Trảo với Hổ Trảo qua các đặc trưng là Long Trảo chủ về vồ chụp trong khi Hổ Trảo chủ về cào xé. Kỹ thuật Long Trảo không đánh từ trên xuống để xé toạc đối thủ mà mềm mại hơn, nhắm trước hết tới việc khóa hoặc lôi giựt.

Kỹ thuật căn bản biểu hiện Long Hình Quyền và Long Trảo. Nhưng không hẳn mọi động tác tay trong Long Hình Quyền đều thuộc về Trảo, mà vẫn có những đòn tấn công bằng ức bàn tay và nắm tay tức Chưởng và Quyền. Long Trảo chỉ là kỹ thuật tay thường được sử dụng nhất. Đặc điểm của kỹ thuật Long Trảo là giữ trảo thủ ở vị trí ngang bằng trù bị thuận lợi cho việc vồ chụp một bộ phận nào đó trên người đối thủ như tay, tai…

Long Hình Quyền nổi tiếng với nhiều trảo thủ khác biệt như :

– Thần Long Triển Trảo : Trảo thủ nghiêng về một bên, di động qua lại theo đường chân trời, luôn nhắm vào sườn đối thủ, sử dụng vùng thắt lưng để phát lực.

– Kim Long Thí Trảo : Dùng cả hai tay tạo thế khóa kép, lấy cùi chỏ áp chế cánh tay đối thủ và có thể bẻ gãy, nếu cần.

– Thần Long Nhập Hải : Khởi đầu như một thế chộp bằng cả hai trảo thủ rồi dồn hết sức nặng lôi cho đối thủ mất thăng bằng và đả bại.

Mặc dù Trảo Thủ thường được sử dụng nhiều nhất trong Long Hình Quyền nhưng các đòn đánh bằng Quyền và Chưởng vẫn được lưu ý tới. Sau đây là một số thế Quyền trong Long Hình Quyền :

– Ô Long Bái Vĩ : Tương tự một trái đấm ngược xoay vòng, sử dụng vùng thắt lưng như một động tác quật đuôi để phát lực.

– Thanh Long Xuất Hải : Là một trái đấm xoay tròn. Một tay lôi đối thủ về phía trước, khi trái đấm công tới.

– Kim Long Vọng Nhật : Đấm móc ngược lên từ phía trước với một tay phong tỏa trên đầu.

Kỹ thuật tấn công bằng Chưởng trong Long Hình Quyền gần giống Xà Hình Quyền, ngoại trừ điểm khác biệt là Long Hình Quyền dùng Trảo Công trong khi Xà Hình Quyền dùng Chỉ Công.

Long Trảo Công là phép luyện Long Trảo bao gồm các bài tập chủ tăng cường sức mạnh riêng cho bàn tay và cánh tay. Võ sinh luyện môn này nắm chặt những bình đất nặng và đưa lên từ từ. Lúc đầu nhưng chiếc bình để rỗng, nhưng sức mạnh sẽ được tăng dần bằng cách đổ thêm nước cho tới khi đầy tràn. Tiếp đó, nước sẽ được thay bằng cát rồi bằng đá với các thể khối và sức nặng lớn hơn.

Sự góp phần căn bản của Long Hình Quyền cho việc rèn tập Thiếu Lâm Ngũ Hình Quyền là việc luyện tập để triển Khí. Khí là những năng lực nội tại của cơ thể. Khi được triển khai đúng lúc, Khí có thể phối hợp với ngoại lực để đưa tới những tác dụng đáng kể. Chẳng hạn như tự thân long trảo vẫn có ngoại lực lớn nhưng luôn bị hạn chế bởi thể lực. Khi đưa Khí vào trảo thủ của mình, một võ sinh Ngũ Hình Quyền sẽ phát ra một lực mạnh gấp bội lần ngoại lực đơn thuần của trảo thủ.

Trong Long Hình Quyền, nhiều phương pháp triển khí có thể được ứng dụng. Một phương pháp quan trọng là hít thở đúng phép. Hít thở phải thư giãn, dùng phần dưới của cơ thể để hút hơi hơn là chỉ dùng riêng vùng ngực. Hơi thở không thể căng thẳng gấp gáp mà phải mềm mại, nhẹ nhàng. Khi thở đúng, hơi thở sẽ giúp chuyển khí về đan điền là vùng tập trung các nguồn nội lực của cơ thể. Thở đúng còn khiến thân thể mềm dẻo, nhẹ nhàng hơn do tình trạng chu lưu đều khắp của khí.

Kỹ thuật thở theo Long Hình Quyền ứng dụng trong chiến đấu là một loại hơi thở gắt và nhẹ, phần nào liên quan tới nguyên tắc Nhu tải Cương. Hơi thở đều nhẹ, tạm nghỉ cho tới khi tung đòn thì bật mạnh ra, phối hợp với sức đánh.

Trong việc luyện Long Hình Quyền, võ sinh phải giữ mềm mại, khoan thai để triển Khí tựa như đang tập Thái Cực Quyền. Hấp tấp, căng thẳng quá, Khí sẽ không lưu chuyển. Ngoại lực cương mãnh chỉ phát ra khi có một va chạm. Trong trường hợp ngược lại, võ sinh phải tập trung vào việc triển Khí để tạo một nội lực cần thiết đủ đối phó với mọi điều có thể tới. Võ sinh còn phải rập khuôn và biểu hiện những đặc tính của Rồng. Chẳng hạn, rồng có thể ẩn hiện. Dù võ thuật không thể giúp người ta biến hình, võ sinh vẫn phải thể hiện đặc tính này bằng cách gây loạn tinh thần đối thủ khiến đối thủ ngỡ mình tấn công ở phía này trong khi mình bất ngờ tấn công từ phía kia. Rồng lại có khả năng biến hóa nên võ sinh có thể dùng cả thân mình làm võ khí để trở thành lớn hơn hoặc chỉ sử dụng riêng mấy đầu ngón tay để tấn kích vào một điểm nhỏ trên người đối thủ. Rồng vốn có tiếng là di động được từ đáy biển tới không trung nên Long Hình Quyền đã truyền dạy cho võ sinh cả hai kỹ thuật là Xuyên (vân) và Nhập (hải).

Một phần tinh thần của rồng là ý. Tinh thần của việc triển khí là Thần. Võ sinh Ngũ Hình Quyền có thể dồn khí qua mắt để tạo ra Thần hoặc Ý. Thường, chỉ một cái nhìn cũng đủ khiến đối thủ phải khiếp hãi. Tuy nhiên không phải bất kỳ ai cũng hiểu nổi Thần vì điều kiện bắt buộc của việc này là một cơ thể cường tráng và một khí lực toàn triển.

Tóm lại, Long Hình Quyền đem cho con người một cổ xe mà bước lên đó, người ta sẽ thấy đích tới là sự phối hợp Nội năng với Ngoại lực để sản sinh một sức mạnh vô cùng đáng sợ.

 

Hổ Hình Quyền

Cổ ngữ Trung Hoa nói rằng : “Một trái núi không dành cho hai con cọp”. Lời nói xuất phát từ ý nghĩ cho là loài cọp thường tự hào tới mức luôn luôn đặt mình vào vị thế độc bá một vùng. Vì tại Trung Hoa không có sư tử nên cọp chính là Chúa Sơn Lâm. Cũng do đó, Hổ Hình Quyền đã có mặt trong Thiếu Lâm Ngũ Hình Quyền.

Khi ngắm hoạt động của loài cọp, các nhà sư Thiếu Lâm đã thấy được sức mạnh, sự dũng cảm và uy lực của chúng và đi tới kết luận đây là con vật có giá trị vô biên với tư cách một mẫu mực để noi theo rèn luyện võ thuật. Ngũ Hình Quyền phản chiếu ảnh hưởng đậm đà hành vi của loài cọp. So với bốn loại hình quyền kia, Hổ Hình Quyền khác biệt hẳn ở điểm chủ tạo một thể cốt mạnh mẽ. Cọp là con vật mau lẹ và quyết liệt. Động tác tấn công của cọp là động tác ép tới giống như đang bị xô bởi một cỗ xe. Sức cọp là một loại ngoại lực cương mãnh hung bạo.

Hổ Hình Quyền không chỉ nhằm phát triển uy lực mà còn nhằm biến đổi tình trạng gân, xương để tăng phần kiên mãnh cho cổ và sống lưng. Cổ và sống lưng để đạt tới mức bền dẻo, có khả năng căng ra đủ để phát nổi một ngoại lực cương mãnh. Bởi uy lực của nhiều loại công phu do các thế tấn vững và cử động mạnh của thắt lưng tạo ra, nên người luyện võ phải có một sống lưng hoàn kiện. Hổ Hình Quyền triển trai ý hướng đó.

Kỹ thuật căn bản trong Hổ Hình Quyền là hổ trảo. Hổ trảo hình thành bằng cách quặp các ngón tay theo dáng của móng cọp. Đây là một đòn tấn công thẳng, ngắn để kéo, bẻ, xé hoặc ép tới. Đích nhắm của Hổ trảo là mặt, cổ, háng, cánh tay hoặc cổ tay. Khi va chạm, ức bàn tay áp mạnh để giúp các ngón tay bấu chắc hơn, rồi bẻ quặt hoặc lôi thẳng xuống.

Hổ Trảo khác Long Trảo ở điểm Long Trảo là một kỹ thuật bắt , khóa còn Hổ Trảo là một cử động ép hoặc xé bất chợt. Dù hầu hết kỹ thuật Hổ Hình Quyền xoay quanh Hổ trảo nhưng cũng có một số thế sử dụng nắm tay, trong đó có thế Lão Hổ Đái Đầu dùng nắm tay xiết chặt phỏng theo cách tấn công bằng đầu của cọp. Nhưng nổi bật và đậm màu sắc vẫn là các thế đánh bằng trảo thủ như Mãnh Hổ Hồi Đầu, Ngạ Hổ Khiên Dương, đặc biệt là Lão Hổ Tiển Đầu. Ứng dụng kỹ thuật sau này có nhiều cách khác nhau. Hoặc biến một tay thành hổ trảo chụp lấy cổ tay đối thủ trong khi tay kia dùng quyền đánh thẳng xuống. Hoặc một tay chộp ngược cổ tay rồi bẻ cánh tay đối thủ, trong lúc tay kia năm lại áp mạnh xuống một điểm ở phía sau và trên cùi chỏ đối thủ. Đây là một thế khóa kép tạo ra đau đớn dữ dội. Thiếu lâm Hổ Hình Quyền cũng sử dụng chưởng, chẳng hạn như kỹ thuật Mãnh Hổ Thôi Sơn, một tay biến thành Hổ trảo chộp nắm tay tấn công của đối thủ đồng thời ức bàn tay kia đánh vào sườn đối thủ.

Nhiều kỹ thuật đá đặc biệt cũng được biểu hiện trong Hổ Hình Quyền, trong đó, một kỹ thuật đã trở nên quen thuộc với tên gọi là Hổ Vĩ Thoái hoặc Hổ Vĩ Cước. Khi thực hiện kỹ thuật đá này phải giữ cho thân mình song song với mặt đất, hai cánh tay dang về phía trước. Điểm cần lưu ý là khi sử dụng hổ trảo thì không phải các ngón tay mà chính toàn thể bàn tay mới thực sự quan trọng. Đây là chiếc khóa để triển khai ngón tay, ức bàn tay và cả chân nữa.

Để luyện hổ trảo, người ta tung lên không những túi cát nặng, nhỏ rồi dùng các ngón tay bắt lại. Các túi các này cũng được dùng khi luyện các thế vồ chụp của Hổ Trảo nhưng với tốc độ cực nhanh.

Về việc tăng cường sức mạnh của các ngón tay và cánh tay thì phương pháp tương tự như phương pháp luyện Long Trảo Công. Trước đây, để biến đổi và tăn sức cho ngón tay, bàn tay và cánh tay luyện Hổ Trảo, các võ sinh vồ chụp và bấu cành cây. Ngày nay, cành cây được thay thế bằng trái banh cao su.

Vì bàn tay được vận dụng để tạo hiệu năng cho hổ trảo nên cánh tay và ngón tay được phát triển qua cách thực tập đẩy bằng ngón tay. Việc hoàn thiện lưng và cổ được thực hiện với một phương pháp đẩy đặc biệt nhằm tạo lực cho cả cánh tay, lưng và chân. Phương pháp ấy đòi hỏi kéo toàn thân về phía trước cho tới khi ngực gần như sát đất thì vận dụng các cơ bắp trên lưng đảo ngược cử động lôi toàn thân về phía sau. So với các phương pháp đẩy thông thường chỉ lên và xuống thẳng thì phương pháp này cử động giống như cuốn về phía trước rồi cuốn về phía sau. Hổ Hình Quyền cũng có nhiều kỹ thuật thở để phát triển sức mạnh và uy lực. Khi thở phải phát ra những tiếng động với số lượng được quy định rõ theo thời khắc. Hơi thở có tiếng động là một nét đặc biệt quan trọng vì nó tạo ra sức bền bằng cách thúc ép tống xuất hết thán khí để thay bằng dưỡng khí cần thiết cho sự phát lực. Bật ra hơi thở có tiếng động còn là cách giữ vững tinh thần ở độ cao, một yếu tố quan trọng khi cử động mạnh mẽ và chớp nhoáng. Cho nên, võ sinh bao giờ cũng bật thở và phát ra một tiếng “oác” khi tung một đòn Hổ Trảo. Không có phần nào trong Hổ Hình Quyền đề cập tới tinh thần. Khi thực hiện Hổ Hình Quyền, chỉ cần chiếc cổ căng thẳng và cặp mắt giận dữ. Võ sinh phải cảm và nghĩ như mình là một con cọp hoang vừa rời núi. Uy lực luôn luôn đến do lòng tự hào. Đây là lúc tinh thần của con cọp hoang hiển hiện để tăng thêm uy lực phi thường cho mọi cuộc chiến đấu. Tinh thần tự hào của loài cọp vươn lên cũng khiến tiêu giảm nhược điểm trước bất kỳ đối thủ nào.

 Xà Hình Quyền

Do thiếu chân để xoay sở mau lẹ và tính chất mềm mại âm hiểm hơn là hung bạo, mạnh mẽ mà con rắn có vẻ giống với con vật không giống nó trong Thiếu Lâm Ngũ Hình Quyền.

Chủ đích của Xà Hình Quyền là phát triển và tăng bồi Khí lực, tức là một tinh thể cho phép tập trung và thấu chuyển uy lực vào các đòn đánh.

Do thiếu tay, chân, loài rắn phải cử động bằng cách vặn bẻ ngoằn ngoèo toàn thân. Để tạo hiệu năng chiến đấu, loài rắn phải san lấp nhược điểm thiếu chân của mình bằng một số điều, chẳng hạn như : có thể cuộn mình và vươn thẳng đứng, như giống rắn hổ thường làm. Từ thế cuốn khúc này, với sự chính xác và một tốc độ khủng khiếp, nó phóng thẳng về phía con mồi. Chính từ ngay sự xung kích và cử động bẻ vặn thân mình, rắn đã đạt tới một uy lực và sức mạnh cực lớn.

Một điểm lợi khác có thể còn quan trọng hơn cả kỹ thuật chiến đấu độc đáo của loài rắn nằm ở việc phát triển và truyền phóng khí lực trong từng đòn đánh. Bởi lẽ luôn trầm tĩnh, thư giãn, rắn tích tụ nhiều khí hơn những con vật khác. Do đó, khi phối hợp nội năng vào kỹ thuật ngoại kích, rắn đã trở thành một đối thủ mạnh mẽ và đáng sợ. Xà Hình Quyền khác với bốn loại hình kia nhờ những cử động lưu loạt thư giãn, phóng ra một uy lực gồm cả hai tính chất Cương và Nhu. Các loại hình quyền kia thường dùng một sức mạnh căng bạo để hạ đối thủ, trong khi Xà Hình Quyền không có đòn đấm, chỉ tấn kích qua ức bàn tay và đầu ngón tay. Đối với Hổ Hình Quyền chẳng hạn, Xà Hình Quyền trái ngược hẳn. Sức mạnh của Hổ Hình Quyền dứt khoát thuộc về Ngoại lực. Hổ Hình Quyền náo hoạt tới mức độ gây ầm ĩ trong từng đòn đánh để đạt tới sức mạnh siêu tuyệt. Năng lực của rắn mang tính trầm lặng và thuộc về nội tại. Cho nên, rắn hoàn toàn lặng lẽ khi sắp xếp một đòn xuyên phá uyển chuyển.

Vì vậy, toàn bộ kỹ thuật của rắn mang một trình độ võ thuật hoàn hảo trong đó, thủ và công được thực hiện nhất loạt. Không có sự khác biệt giữa thủ và công, vì thủ lập tức biến thành công và ngược lại. Đối vớ Xà Hình Quyền, các kỹ thuật cuốn khác và uốn vòng của rắn thường mang tính phòng thủ lúc đầu rồi vụt chuyển thành trực kích, cốt yếu ở sự mềm mại hơn là tốc độ tấn công.

Xà Hình Quyền gồm nhiều lối đánh bằng đầu ngón tay, trong đó có một đòn tạo thành hình lưỡi rắn bằng cách chĩa ngón trỏ và ngón giữa về phía trước trong khi bẻ gập các ngón khác lại. Đòn này thường nhắm vào các điểm nhược của cơ thể như mắt chẳng hạn.

Một cách đánh ngón tay khác gọi là Thanh Xà Xuất Động xếp các ngón tay lại như đầu một con rắn hổ đang cuốn khúc vươn lên. Theo đúng cách tấn công mồi của rắn hổ, đòn ngón tay này phóng ra từ một cùi chỏ uốn cong xuống đạt tới cực điểm mạnh khi vươn cánh tay về phía trước. Đòn này còn được dùng như thế thượng tỏa (thủ phần trên cao) có thể biến nhanh chóng thành một thế tấn công sát tử nhắm vào cuống họng hoặc mắt.

Một cách đánh ngón tay khác nữa gọi là Thủy Xà Thượng Diện là một cú móc ngược ngón tay nhắm một điểm thuộc họng hoặc nách.

Ngoài các kỹ thuật chiến đấu căn bản, mọi loại hình quyền đều không bỏ quên thái độ và tinh thần của các con vật được mô phỏng. Thói quen chiến đấu của loài vật luôn dựa trên bản năng nên việc đưa được bản năng đó vào trong võ công là điều quan trọng. Do đó, giữ cho thân mình sinh động và linh hoạt là điều tất yếu khi thực hiện Xà Hình Quyền. Trù hoạch sự tiếp giao đúng lúc cho nguồn sức mạnh nhu nhuyễn, lưu hoàn nơi các cánh tay với nguồn ngoại lực cương mãnh nơi các bàn tay là cần thíết vì Xà Hình Quyền nhiều khi vẫn cần tới cương lực.

Đóng góp quan trọng nhất của Xà Hình Quyền là sự phát triển Khí lực, thành quả gặt hái từ sự thư giãn và sự tập trung. Khi luyện Xà Hình Quyền võ sinh phải tập cho được hai điều là Tĩnh và Nhu, cố mô phỏng cái thân hình dài có thể phát lực qua từng cử động. Để dễ thư giãn, toàn bộ kỹ thuật Xà Hình Quyền cần được thực hành một cách khoan thai và với sự tập trung. Theo cách tập này, mỗi phần của cơ thể đều chịu tác động và đều được nghỉ ngơi. Nghỉ ngơi hay thư giãn giúp cho thân thể mềm mại, bền dẻo trong khi tập trung đưa tới sự bình thản sáng suốt là những điều cần thiết cho bất kể nhân vật võ lâm nào.

Do kỹ thuật Xà Hình Quyền, người luyện Ngũ Hình Quyền biết được cách chuyển Khí lực qua cánh tay để phóng ra đầu ngón tay. Khi không có va chạm thì có vẻ như tất cả đều vô lực. Tuy nhiên, khi va chạm xảy ra, sức mạnh lập tức phát sinh. Nhưng, Xà Hình Quyền không có kỹ thuật tập để phát triển và tăng cường ngoại lực các ngón tay. Điều nay sẽ được đạt tới qua các bài tập đặc biệt liên hệ tới Long, Hổ và Hạc Hình Quyền.

Điều quan trọng với người thực hành Xà Hình Quyền là phải giữ được bình thản và trầm lặng để triển khai giác quan và cảm nhận ngay cách thế của đối thủ. Va cham thực sự bằng cánh tay luyện Xà Hình Quyền có hiệu quả tương tự như bàn tay trực đả của Vịnh Xuân hoặc bàn tay xô tới của Thái Cực Quyền. Khi chưa va chạm thì tất cả đều như vô lực không có nghĩa là các đòn đánh của rắn chỉ đơn thuần là các va chạm yếu ớt, nhẹ nhàng của một chiếc nanh độc ma quái. Mặc dù có vẻ mềm mại, mọi động tác của người sử dụng Xà Hình Quyền đều mau lẹ và mạnh mẽ. Khi va chạm, sức mạnh của khí lực nội tại sẽ tạo nên một uy lực có thể lớn gấp quá 7 lần sức mạnh bình thường của con người.

Thể hiện tinh thần đặc biệt của loài rắn, người luyện Ngũ Hình Quyền phải Tĩnh đủ để quán triệt bản thân mình và cảm thấy hoàn toàn bình lặng, bất kể mọi quấy rầy của ngoại cảnh. Trong điều kiện đó, khí lực sẽ thông lưu từ sóng lưng qua cánh tay tới tận đầu các ngón tay. Để đúng như rắn, trước khi công hay thủ, mọi động tác đều cần khoan thai (tương tự khi tập Thái Cực Quyền) và thận trọng. Trong ứng dụng thực tế, nhiều đòn đánh đều nhắm các yếu huyệt nhạy cảm của đối thủ. Những yếu huyệt này là những vùng cốt tử của cơ thể chỉ cần bị kích thích sẽ gây ra đau đớn dữ dội, ngất xỉu, thậm chí vong mạng nữa.

Sau khi thẩm thấu kỹ thuật Thiếu Lâm Xà Hình Quyền, người ta có thể chiến đấu với một tốc độ chớp nhoáng và một sự tập trung thông suốt.

Hạc Hình Quyền

Hạc chỉ đơn thuần là một loài chim, nhưng là một loài chim nổi tiếng về tuổi thọ và một dục tính dị thường. Do dục tính dị thường biểu thị một cnguồn năng lực sung mãn và do tính biểu thị cho sự trường thọ. Hạc đã được chọn lựa làm con vật mẫu trong Thiếu Lâm Ngũ Hình Quyền.

Người ta tin rằng hạc sống lâu chỉ vì thân thể nó tích trữ được một lượng Tinh cực lớn. Tinh là tiếng chỉ cho nguồn năng lực nguyên sinh hoặc sinh năng của loài động vật. Hạc triển khai Tinh một cách dễ dàng, vì vốn là một con vật trầm tĩnh và có khả năng tập trung cao độ. Bằng chứng cho tính kiên trì tập trung trên là hạc có thể đứng bất động nhiều giờ liền trên một chân duy nhất.

Luyện Hạc Hình Quyền là cách giúp cho võ sinh kiên thủ nội năng và tăng cường lần sức mạnh về cả hai mặt Nội lực và Ngoại lực. Tác dụng của việc luyện tập là phát triển khí lực nội tại đồng thời làm cứng chắc xương, và cơ bắp.

Hạc có bản chất trầm lặng tương tự như rắn và cũng như rắn, mọi động tác của hạc để triệt hạ hoặc chế ngự đối thủ đều chỉ dùng một lực tối thiểu.

Toàn bộ kỹ thuật Hạc Hình Quyền là những động tác xoay vòng. Tất cả đều nhu nhuyễn và được thư giãn. Tuy nhiên, những động tác này sẽ bật ra một uy lực bất thần, chớp nhoáng ngay khi chạm vào mục tiêu. Có hai loại kỹ thuật khác nhau gọi là trường và đoản thủ. Các động tác thuộc đoản thủ thường là những thế khóa nhằm làm bại liệt tay chân trong khi kỹ thuật tầm xa thường là những đòn trực đả vào các yếu huyệt hoặc các phần hiểm nhược trên người đối thủ.

Nổi tiếng nhất trong Hạc Hình Quyền là những đòn mở rộng tương tự như cánh hạc xòe ra gọi là Hạc Dực. Nay là những đòn rất phổ dụng trong Thiếu Lâm Ngũ Hình Quyền với kỹ thuật vươn tay, xoay vòng và quét. Trong kỹ thuật Hạc Dực, cánh tay hạ thấp bao gồm cả ngón tay chính là võ khí tấn công. Hạc Dực biểu hiện động tác xòe ra và mở rộng cánh của hạc. Vì các thế sử dụng uy lực toàn thân để phát sinh năng lực, đòn này phóng ra một sức mạnh rất lớn. Dã Hạc Khai Dực là một đòn nhắm cắt ngang cặp mắt của đối thủ.

Hạc còn có cần cổ dài để dùng cho các động tác vươn xa. Trong khuôn khổ Thiếu Lâm Ngũ Hình Quyền, những động tác này thường kết thúc với một đòn đánh bằng mỏ. Mỏ hạc, gọi là Hạc chủy là biểu tượng thông thường nhất cho cách thế chiến đấu của hạc. Hạc chủy hình thành do chụm sát năm ngón tay vào một điểm trong khi giữ cho cườm tay hơi cong lại. Đích tấn công của Hạc chủy là mắt, cuống họng là những vùng dễ bị sát thương trên thân thể đối thủ. Đòn Hạc chủy thường thấy trong Ngũ Hình Quyền là Song Hạc Đái Đầu. Đòn này được biểu hiện bằng vị thế nghịch hướng của hai tay nhằm tấn công vào thái dương của đối thủ. Phần trong của bàn tay Hạc chủy cũng có thể trở thành một bàn tay đánh móc gọi là Hạc Cảnh, được dùng trước hết để xô cho đối thủ mất thăng bằng rồi chộp vào cổ, cánh tay hoặc chân đối thủ. Đòn này được trù định với một sức mềm mại có thư dãn. Tuy nhiên tốc độ và cử động vồ chộp của cườm tay sẽ tăng thêm uy lực đã được tập trung cho cú đánh. Bạch Hạc Thủ Sào là một đòn đánh biểu hiện sự sử dụng Hạc cảnh để thủ. Mặc dù Hạc chủy là biểu trưng quen thuộc nhất cho Hạc Hình Quyền, một lối đánh khác cũng được sử dụng nhiều không kém là Hạc đỉnh, tức đầu hạc. Theo lối đánh này, phần chót cùng nơi cổ tay của người sử dụng hạc đỉnh mô phỏng như một đầu hạc. Đúng như cách con hạc có thể đánh bằng đầu rồi xô hoặc dẩy bằng cổ, người sử dụng hạc đỉnh đánh bằng phần chót cùng của cổ tay bẻ cong lại rồi phóng tiếp một cú đẩy mạnh vào thân hình đã ở sẳn trong thế bị đả thương của đối thủ. Mục tiêu tấn công của những đòn đánh như thế này nhiều khi là cằm, thái dương hoặc nách. Người sử dụng Hạc đỉnh không chỉ phóng đòn bằng phần cứng của cườm tay mà còn bồi thêm cú xô bằng phần cườm tay uốn cong trong khi dùng toàn thể cánh tay như cần cổ hạc (Hạc cảnh).

Kỹ thuật Hạc đĩnh mang tên Dã Hạc Thủ Động là một động tác nhằm cả công lẫn thủ cùng một lúc. Đây là một thế thủ cao chận cánh tay tấn công của đối thủ bằng cườm tay hạc đĩnh đồng thời đánh trả vào một yếu huyệt trên cánh tay trước của đối thủ. Thế thủ này nhiều uy lực đến độ tức khắc biến thành đòn công gây đau đớn bại liệt cho cánh tay đối thủ.

Hạc Hình Quyền còn có một đòn chân đặc biệt là Bạch Hạc Độc Lập, theo đó người ta sẽ trụ trên một chân trong khi chân kia nhấc lên để triệt một cú đá thấp đang công tới. Liền ngay sau đó, lập tức phản cước bằng chân đang nhấc cao. Đây là một cú đá thẳng chính diện gọi là Bạch Hạc Tản Trảo.

Việc luyện Hạc Hình Quyền nhằm giúp cánh tay và ngón tay vươn dài và thêm mạnh. Luyện Hạc Hình Quyền cũng còn để hoàn thiện tốc độ ra đòn và khả năng giữ thăng bằng, vì các động tác đều mau lẹ, linh hoạt, sử dụng vùng thắt lưng, mềm mại, bền dẻo với nhịp chân uyển chuyển.

Nhiều kỹ thuật tập đặc biệtcũng được vận dụng để cải thiện và tăng cường sức mạnh cho bàn tay của người luyện Hạc Hình Quyền. Vì Hạc Hình Quyền chủ gom hết sức mạnh tấn công chỉ vào một mục tiêu nhỏ nên kiện toàn các ngón tay trở nên điều quan trọng. Ngoài các bài tập riêng của Hạc Hình Quyền để tăng cường sức cho ngón tay, người luyện Hạc Hình Quyền còn cần tập thêm những bài tập thuộc các loại hình quyền khác. Xà Hình Quyền dạy cho truyền thẳng khí lực vào các ngón tay, trong Long Trảo và Hổ Trảo sẽ tiếp thêm ngoại lực cho các bàn tay và cả ngón tay nữa.

Xỉa, đẩy các túi cát căng cứng là cách tập để phát triển Hạc chủy. Khi các bàn tay đã hoàn thiện sẽ thay cách xỉa đẩy bao cát bằng cách thọc nắm tay Hạc chủy vào các thùng sỏi, đá cục. Việc tập luyện này khiến các ngón tay trở nên cứng chắc và biến thành những vũ khí hiệu quả khi đánh trúng mục tiêu.

Để cải thiện cườm tay Hạc chủy thì dùng phần chót cùng cổ tay Hạc chủy đánh vào túi cát và phần uốn cong của cườm tay hạc đỉnh đẩy túi cát.

Đáp ứng cho đòi hỏi cần có mắt cá chân mạnh để giữ nổi thăng bằng khi thực hiện thế Bạch Hạc Độc Lập, người luyện Thiếu Lâm Hạc Hình Quyền thường tập với mắt cá chân có đeo nặng. Tinh thần tập trung sâu lắng có thư dãn của hạc cũng giúp phát triển sự tập trung và chuyên chú cho người luyện Hạc Hình Quyền.

Báo Hình Quyền

Tại Trung Hoa, so cả với tính hung bạo lẫn uy lực thì báo chỉ xếp đứng thứ nhì sau cọp. Nhìn chung trên thực tế, nhờ thân hình cọp thon gọn hơn, báo lại mạnh và nhanh hơn cọp.

Để áp đảo đối thủ, cọp dựa vào hình vóc và sức mạnh bộc phát từ khối cơ bắp đầy, ngắn. Khác với cọp, báo là một hệ thống cấu trúc tổng hòa các cơ bắp cường tráng, dài, dẻo trong một thân hình thon láng, nhanh nhẹn. Sức mạnh và uy lực của báo tùy thuộc vào tốc độ chớp nhoáng và động tác chân. Uy lực của báo rất vững chắc nhưng không căng thẳng, mãnh liệt. Cho nên Báo Hình Quyền chú trong tới các kỹ thuật quật đuôi tự do có thư giãn phát sinh từ tốc độ và sự thăng bằng, phối kết với các động tác dẻo của vùng háng và vùng thắt lưng. Chính vì đạt tới một mức cân xứng giữa sức mạnh công phá mãnh liệt của cọp và sức mạnh tập trung, mau lẹ của hạc mà các nhà sư Thíếu Lâm đã dành cho báo một vị trí trong Ngũ Hình Quyền. Báo Hình Quyền giúp người luyện Ngũ Hình Quyền phát triển về cả hai mặt là thể lực và tốc độ. Thuật ngữ võ học Trung Hoa gọi chung thành quả này là lực, biểu thị một ngoại trạng hoàn hảo của da, gân, xương và cơ bắp.

Báo Hình Quyền không lưu ý nhiều về mặt luyện khí. Bởi lẽ đặc trưng kỹ thuật của báo là quyết liệt, chớp nhoáng vốn thuộc kỹ thuật ngoại chiến, trong khi việc khai triển nội công do sự phát sinh và lắng đọng Khí lại đòi hỏi những động tác khoan thai chính xác. Tuy nhiên, đã có một tương quan chặt chẽ giữa phương thức luyện nội công theo Long và Xà Hình Quyền với ngoại lực của Báo Hình Quyền. Sự hỗ tương cần thiết này nhắm đưa tất cả tới một trình độ hiệu quả hơn.

Đòn tay căn bản trong Báo Hình Quyền gọi là Báo chùy. Đây là một đòn đấm vận dụng sức mạnh tập trung, mau lẹ để đả thương đối thủ. Nắm đấm Báo Chùy kết thành do sự xiết chặt đốt tay thứ nhất của bốn ngón tay, tương tự một nắm đấm bình thường. Ngón cái ép sát dọc phía ngoài nắm tay để tăng thêm độ chắc. Hình thức kết ngón của nắm tay Báo Chùy có hiệu năng tập trung uy lực vào một vùng nhỏ để gia cường sức đánh.

Luyện Báo Chùy cũng bằng cách đấm và đẩy các túi cát, nhưng thay vì dùng bàn tay thì dùng khớp các ngón tay. Các khớp ngón tay chưa luyện tới mức sẽ dễ dàng bị trật, gẫy khi sử dụng Báo Chùy.

Để tăng hiệu lực của nắm tay Báo Chùy không chỉ cần riêng những khớp ngón tay mạnh mà còn cần cả những bàn tay mạnh đủ chịu nổi sức dội của đòn đánh. Các bàn tay được luyện mạnh bằng cách ép và xiết một trái banh cao su mỗi ngày trên 100 lần. Ngoài nắm tay Báo Chùy, Báo Hình Quyền cũng thường sử dụng nắm tay xiết chặt bình thường và nhiều đòn cánh tay hoặc cùi chỏ. Báo rất thành thạo việc chuyển ngoại Kình tới phần thân thể va chạm với đối thủ. Trong trường hợp sử dụng Báo Chùy, Kình phát ra qua các khớp ngón tay. Khi sử dụng ngón tay hoặc cùi chỏ, Kình sẽ phát riêng tại điểm có va chạm để gom sức đánh mạnh hơn.

Hình ảnh hoàn hảo nhất về kỹ thuật chiến đấu của Báo Hình Quyền nằm trong một số đòn phòng thủ, ngăn đỡ. Thay vì ngăn đỡ rồi phản kích, người luyện Báo Hình Quyền chỉ cần dùng cánh tay làm lệch hướng đòn đánh tới cùng lúc phóng nắm tay tấn công. Ngay khi gạt đòn của đối thủ, người sử dụng Báo Hình Quyền đã mau chóng chuyển góc độ của nắm tay để có thể đánh vào chỗ yếu của đối thủ.

Cước pháp của Báo Hình Quyền gồm những bước ngắn, gấp có mục đích tấn vững và tạo ra những bước dài, mạnh cần thiết cho việc chuyển vị trí một cách dễ dàng, mau lẹ.

Nhiều kỹ thuật Ngũ Hình Quyền mang dấu ấn của báo. Hắc Báo Thượng Thụ biểu thị tốc độ và tính chủ động tấn công của báo. Kỹ thuật này là một trong bốn đòn tay chớp nhoáng đánh vào cả hai bên mặt lẫn thân hình đối thủ.

Kim Báo Hí Cầu là một thế phối hợp tay, chân. Trong kỹ thuật này, nắm tay gọi là Ấn Quyền hoặc Ấn Chùy nắm như một trái đấm bình thường đánh vào đầu đối thủ tương tự một trái banh nẩy lên, cùng lúc, phóng một cú đá ngang, thấp vào háng đối thủ.

Một kỹ thuật khác có tên gọi là Báo Tử Định Thân. Kỹ thuật này có thể sử dụng trong cả thủ lẫn công. Khi thủ, Báo Tử Định Thân là một thế khóa thượng kép kiên cố, còn khi công, nó trở thành hai trái đấm đánh vào thái dương đối thủ.

Về tinh thần, báo cũng không khác cọp. Võ sinh Báo Hình Quyền luôn luôn tự hào và chủ động tấn kích. Sự khác biệt chỉ nằm ở điểm trong cả tinh thần lẫn kỹ thuật, tốc độ bao giờ cũng là bản thể của báo.

Tóm lại, Báo Hình Quyền nhằm gia tăng tốc độ đòn đánh và cước pháp của người luyện Ngũ Hình Quyền, giúp tăng cường các thế tấn, đồng thời còn tạo nên một uy lực và sức mạnh đáng kể.

Nguồn: Trích “Tìm hiểu VÕ THUẬT” Tháng 12/1990

One comment on “Thiếu Lâm Ngũ Hình Quyền

  1. tuấn nói:

    xà quyền môn phái nam hồng sơn

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s