Võ sư Nam Anh luyện đại đao
Võ sư Nam Anh luyện đại đao
Vịnh Xuân Kung Fu Nam Anh, được sáng lập bởi võ sư Nam Anh. Ông học võ Vịnh Xuân (Vĩnh Xuân) của cố võ sư Hồ Hải Long (một học trò của Đại sư Nguyễn Tế Công), theo một số tài liệu thì nghe nói sau này ông có thụ giáo thêm với Đại sư Nguyên Minh (Hoàng Tường Phong), cũng là một cao đồ của môn Vịnh Xuân. Ngoài ra ông còn thụ giáo với nhiều danh sư của các môn phái khác như Thiếu Lâm, Võ Đang, và Bạch Mi. Năm 1986, ông đã thành lập ra Liên đoàn Quốc tế Vịnh Xuân Chính thống Phái tại Quebec, Canada. Hiện nay ông đang giữ cương vị là chủ tịch của Liên đoàn này. Xin được giới thiệu dưới đây một số thông tin về tiểu sử của võ sư Nam Anh và hai người thầy đã truyền thụ Vịnh Xuân cho ông.

Đại sư Nguyên Minh

Ðại Sư Nguyên Minh thuộc dòng dõi họ Hoàng Hoa, sinh năm 1884 tại Phúc Kiến và là điệt tôn của Danh Sư Hoàng Hoa Bảo. Sinh thời vốn thể chất yếu đuối lại không ăn được thịt cá, dù chỉ một miếng nhỏ cũng làm ông nôn ọe. Mẫu thân ông rất lo lắng nên tìm đến một vị Thầy nổi tiếng giỏi Nhâm cầm độn toán trong vùng để xin tiên đoán vận mệnh cho cậu bé. Tuy không tiết lộ những lời tiên tri của vị Thầy nhưng bà quyết định không chút đắn đo, lặn lội đường xa đưa con trai mình phó thác tại Kim Cương Tự. Năm 6 tuổi ông thọ giới trường trai (chay trường) và được Ðại Sư Viên Hạnh thu nhận làm đệ tử và ban cho pháp danh là Nguyên Minh (tức có được Tuệ căn).

Sau 18 năm chuyên cần khổ luyện theo đường lối chân truyền, một sáng mùa thu năm 1908, Phương Trượng cho gọi ông đến và bảo:
– Này con, đã đến lúc con phải hạ sơn để giúp đời vì hiện nay đất nước đang lâm vào cảnh dầu sôi lửa bỏng. Chẳng bao lâu nữa, Thanh triều sẽ bị diệt vong, Trung Quốc sẽ rơi vào cảnh cực kỳ hỗn loạn, vì thế Tổ Quốc sẽ rất cần đến tất cả những người con thân yêu… Con hãy thuận theo duyên nghiệp mà chu toàn xứng đáng bổn phận của một trang nam tử hán thời loạn. Con khá khắc cốt ghi tâm là phải tu thân thì mới tề gia, trị quốc được, đó chính là con đường Tâm đạo. Thôi đừng lưu luyến nữa, cư dân vùng Hoàng Hà sẽ trông nhờ nơi con!

Năm 1912, tức 1 năm sau khi nhà Thanh sụp đổ, ông tình nguyện tham gia vào quân ngũ như bao thanh niên yêu nước thời đại. Từ 1937 đến 1945, ông là một trong những vị lãnh đạo mang cấp tướng của liên minh kháng chiến chống Nhật giải phóng đất nước. Cũng trong thời kỳ ấy, ông đảm trách công tác cứu hộ và cứu tế các nạn nhân bị thiên tai lũ lụt vùng châu thổ sông Hoàng Hà, nhờ vậy hàng chục vạn sinh mạng đã được cứu sống.

Tháng 9 năm 1945, ông dẫn đầu Ðệ Bát lộ quân của Tướng Lư Hán tiến về Việt Nam giải giới hàng quân Nhật, kết thúc một cuộc chiến đẫm máu tại Ðông Nam Á.

Suốt 38 năm binh nghiệp, ông nổi tiếng là một vị chỉ huy tài ba với lòng nhân hậu và trí thông minh phi thường. Rời quân ngũ năm 1949, ông quyết định sinh sống tại Việt Nam và lấy tên mới là Hoàng Tường Phong (ngọn gió vàng tốt lành).
Năm 1985, vị Ðại Sư trên trăm tuổi (101) rời Việt Nam đến Trung Quốc Ðài Bắc (Ðài Loan) và ẩn tu tại một ngôi cổ tự vùng Nhật Nguyệt Hồ.

Cố võ sư Hồ Hải Long (1917-1988)
Cố võ sư Hồ Hải Long (1917-1988)

 Quyền Sư Hồ Hải Long:

 Phỏng theo tác phẩm VÕ ĐANG BÁT BẢO QUYỀN của Tác giả Nam Anh xuất bản tại Saigon -1972

Quyền sư Hồ Hải Long (tên thật là Nguyễn Duy Hải) sinh năm 1917 tại Ninh Bình (Bắc Bộ Việt Nam), thuộc dòng dõi “Tướng tướng thế gia” và là hậu duệ của Phó Vệ Úy tướng quân Nguyễn Hữu Khôi (tức Lê Văn Khôi) viên dũng tướng tay không đánh chết hổ khiến xứ thần Xiêm La phải khiếp phục. Thuở nhỏ tuy gầy ốm nhưng có sức mạnh phi thường và tánh nóng như lửa nên chú ruột của người là Thạch Nam tiên sinh, chưởng môn phái Hàn Bái, không chịu truyền dạy cho võ nghệ. Nhưng với năng khiếu sẵn có, người chỉ nhìn trộm mà thuộc lòng bài Ngũ Lộ Mai Hoa Quyền là bài quyền sở đắc của cụ Hàn và do chuyên cần luyện tập nên trong một dịp cụ Đắc vắng nhà, người đã hàng phục hết các môn sinh chân truyền của thúc phụ. Do đó cụ Thạch Nam đã cho gọi đến và bắt đầu truyền dạy tất cả sở học cho người.

Mười năm sau, vào năm 1941 người đã có cơ duyên gặp được Đại Sư Nguyễn Tế Công tại Hà Nội, lúc ấy người đã là một lực sĩ đồng thời là một cao thủ võ thuật được mệnh danh là Hải Nhật, thấy vị thầy Tàu già yếu, được gia đình mời về dạy võ, người ngạo nghễ ưỡn ngực thách thức “Ông có chịu nổi quả thôi sơn này hay không?”

Chỉ tay vào lồng ngực gầy gò của mình, Đại Sư Tế Công ra dấu sẵn sàng chịu ba quả đấm của Hải Nhật. Bị xem thường và xúc phạm, người tung ngay một cú đấm sấm sét nhưng bị chận đứng bởi một bức tường đồng vách sắt mà thật ra chỉ là tấm thân ốm yếu của ông lão.
Điên tiết, người lao vào và kết quả là bị bắn văng vào gụ thờ, nằm sõng soài dưới đống đồ đạc đổ lỏng chỏng mà vẫn chưa hết bàng hoàng.

Sự việc này thật ấn tượng đối với chàng thanh niên Hải Nhật và đã đánh dấu một khúc quanh trên con đường luyện tập võ nghệ của người dưới sự chỉ dạy của Đại Sư Nguyễn Tế Công.  Vào năm 1947, người đã oanh liệt đoạt giải vô địch kiếm thuật mười tỉnh đất Bắc (tại chợ Me Vĩnh Yên) và biệt danh “Hồ Hải Long” đã xuất hiện từ đấy.   

 Vừa kịp thụ đắc quyền danh trấn võ môn Vịnh Xuân Ngũ Hình Khí Công thì chẳng may hành động cách mạng bị bại lộ (người vốn là một nhà yêu nước chân chính trong thời kỳ cách mạng V.N. 1945-1975) nên người bị thực dân Pháp bắt cầm tù 5 năm tại bãi biển Đồ Sơn.

Tuy vậy, từ đó tham thiền suy tưởng tự luyện môn khí công nên quyền pháp biến hóa không chiêu thế, chưởng pháp dũng mãnh gọn gàng, khi vận khí người có thể chịu đựng được hàng trăm quả đấm. Người thường nói: “Trong chiến đấu mà tính trước đòn thế thì chắc chắn sẽ thảm bại”.

Về hoạt động cách mạng, người đã từng sát cánh chiến đấu bên các bậc danh nhân chí sĩ yêu nước nhưng chỉ kín đáo giữ một nhiệm vụ khiêm tốn là giáo viên dạy về Luân Lý tại một ngôi trường nhỏ.

Về phương diện Võ thuật, quyền sư Hồ Hải Long là bạn chí thân của cố Võ sư Nguyễn Lộc là người sáng lập Việt Võ Đạo và võ sư vô địch quyền Anh Nguyễn Quỳnh, người sáng lập môn Tinh Hoa Thuật.

 Năm 1969, Đại Sư Nam Anh đã may mắn được gặp Thầy Hồ Hải Long. Cảm phục hình ảnh chàng trai tiền chiến, sáng chiến khu Tuyên Quang, chiều biên giới Lào-Việt, đời sương gió chấm phá bằng đôi mắt giai nhân sóng sánh men rượu và xúc động trước tâm huyết phục vụ đất nước và nhân dân của một nhà cách mạng chân chính, Đại Sư Nam Anh đã tự nguyện đứng sau lưng người để hoàn thành hoài bão cao đẹp.

Quyền sư Hồ Hải Long mất năm 1988, thọ 71 tuổi. Lúc ấy, Đại Sư Nam Anh đang ở nước ngoài và khi trở về Việt Nam năm 1992, Đại Sư đã đến thắp nén hương kính viếng người lần cuối.

Võ sư Nam Anh (ảnh chụp năm 1979)
Võ sư Nam Anh (ảnh chụp năm 1979)

Trưởng môn Nam Anh Vịnh Xuân

Xuất thân từ một gia đình có truyền thống võ thuật lâu đời, Đại Sư Nam Anh đã được ông ngoại truyền thụ võ công Thiếu Lâm Tự ngay từ thuở ấu thơ. Đến năm 1959, ông được vinh dự trở thành hội viên của Tinh Võ Hội (vốn là một tổ chức quốc tế về võ thuật và tiêu chí để kết nạp vào hội viên rất chọn lọc) và theo học môn Võ Đang dưới sự huấn luyện của Đại Sư Quan Thế Minh. Năm 1967, ông có cơ duyên gặp được đạo sĩ Trương Tòng Phú, vốn là Đại Sư chưởng môn phái Võ Đang nên ông đã quyết định theo Thầy lên núi tu luyện suốt 3 năm ròng

Hạ sơn năm 1969 và từ đó đến năm 1975, ông theo học môn Vịnh Xuân với võ sư Hồ Hải Long (tên thật là Nguyễn Duy Hải), một trong số các truyền nhân của Đại sư Nguyễn Tế Công. Trong khoảng thời gian ấy, cùng với võ sư Hồ Hải Long, ông đã sáng lập nên bộ môn Thần Khí Đạo với tinh hoa đặt nặng trên Khí và Thần.

Sau năm 1975, một hoàn cảnh đặc biệt đã khiến ông gặp gỡ Đại Sư Hạng Văn Giai tại trại học tập cải tạo Chí Hòa. Cùng trong cảnh ngộ là trại viên diện chính trị, giữa hai người đã nảy sinh một mối thâm giao. Suốt trong thời gian từ 1975 đến 1977, ngoài giờ học tập lao động, Đại Sư Hạng Văn Giai đã tâm truyền cho ông sở học thâm sâu về các ngành học thuật Đông Phương như Phong Thủy, Tướng Pháp và Tử Vi Đẩu Số. Sau khi mãn hạn học tập, ông đã quyết chí lặn lội tìm kiếm tung tích của Đại sư Nguyên Minh theo lời gửi gắm của Đại Sư Hạng Văn Giai. Sau khi đã gặp và vượt qua nhiều thử thách, ông đã được Đại Sư Nguyên Minh nhận làm đệ tử thân tín và dốc lòng truyền dạy cho ông để kiện toàn hết trình độ cao đẳng và siêu đẳng của Vịnh Xuân (từ năm 1977 đến năm 1983).

Sau hơn 30 năm khổ luyện, Đại Sư Nam Anh đã được Đại Sư Nguyên Minh, đại diện ủy quyền của Kim Cương Tự, chính thức sắc phong Chu Sa Đai đệ cửu đẳng và được chỉ định làm chưởng môn đời thứ 6 Vịnh Xuân Chính Thống Phái tại Việt Nam. Sự lựa chọn này chủ yếu xét đến kiến văn, trình độ văn hóa và khả năng vận dụng trong xã hội đương đại.

Trong năm 1978, ông cũng gặp lại Đại Sư Lưu Đại Phong, tức Lục Bình Đạo Nhân, vốn là sư đệ của Đại Sư Trương Tòng Phú. Cũng là người phái Võ Đang, Lục Bình Đạo Nhân quí ông như một đệ tử thân tín và trở thành cố vấn tinh thần cho ông.

Đặc biệt vào năm 1980, ông đã khổ công tập luyện thêm Bạch Mi chính thống  phái tại Việt Nam với Đại Sư chưởng môn Lư Bình Vân, nhờ vậy hóa giải được mối bất hòa trước đây giữa hai môn phái Bạch Mi và Vịnh Xuân.

Bên cạnh sự nghiệp về Võ Thuật, Đại Sư Nam Anh còn hoạt động rất tích cực trong nhiều lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác :

Tốt nghiệp Cao Học Luật Công Pháp Quốc Tế tại Luật Khoa Đại Học Đường – Sài Gòn, cử nhân văn chương Pháp và Đức – Đại Học Sư Phạm Sài Gòn.
1969 đến 1973 : Hội viên Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam, phó tổng thư ký Tòa soạn Nguyệt san Võ thuật là tạp chí duy nhất về võ thuật thời đó.
1973 : Luật Sư thuộc Luật Sư Đoàn – Sài Gòn.
1973 đến 1975 : Cố vấn Pháp Lý cho Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam
1977 đến 1986 : Hội viên Hội Luật Gia Việt Nam.
Đến Québec – Canada năm 1986, ông là Giáo Sư giảng dạy hơn 9 năm tại Đại Học Montréal, cùng lúc hoàn tất học trình Tiến Sĩ Luật Thương Mại quốc tế.

Đại Sư Nam Anh còn là Chủ tịch kiêm sáng lập viên Liên Đoàn Quốc Tế Thiếu Lâm Vịnh Xuân Nam Anh Kung Fu và Liên Đoàn Quốc Tế Vịnh Xuân Chính Thống phái. Đồng thời ông cũng là Chủ tịch kiêm sáng lập viên Hội Án, Ma, Nã tại Québec và là tác giả của hơn 16 quyển sách các loại từ võ thuật, sinh ngữ, kiến trúc, đến đông y, tử vi đẩu số v.v… xuất bản trong những năm 1969 – 1975.

Nguồn: Vịnh Xuân Kung Fu Nam Anh (www.shaolinwingchun.com)

Advertisements