Ngày xuân nói chuyện về môn võ mùa xuân

Đây là những thước phim tư liệu giới thiệu về môn Vĩnh Xuân và một số chi phái Vĩnh/Vịnh xuân ở bắc Việt Nam.

Vịnh Xuân Quyền ở Việt Nam

Khi nói đến Vịnh Xuân quyền, chắc các bạn đều nhớ đến bộ phim “Diệp Vấn” được công chiếu năm ngoái. Bộ phim rất được hoan nghênh tại Trung Quốc và Việt Nam. Vì sao võ sư Đinh Trọng Thuỷ lại thích bộ phim này? Bởi vì anh không những tập luyện mà còn mở Võ đường dạy Vịnh Xuân quyền ở Việt Nam.

Võ đường này là một trong những thành viên của Hội Võ thuật Hà Nội, quy mô khá lớn, hiện nay có khoảng 300 học viên, nằm ở quận Ba Đình Hà Nội. Anh Đinh Trọng Thuỷ, Võ sư Vịnh Xuân quyền, chủ nhân Võ đường cho phóng viên biết:

“Võ đường của chúng tôi không những dạy Vịnh Xuân, mà còn dạy cả Triệt quyền đạo, ở đây có Tôi và Võ sư Bùi Quốc Quân, chúng tôi đã dạy Vịnh Xuân truyền thống và sau đó có phát triển theo Triệt quyền đạo của Lý Tiểu Long. Võ đường đã được thành lập hơn 20 năm rồi, trong hơn 20 năm qua, chúng tôi đã dạy rất nhiều vận động viên, các lực lượng an ninh, vệ sĩ … số lượng lên đến hai, ba ngàn người, có thể còn nhiều nữa mà tôi không nhớ hết được.”

Nói đến Vịnh Xuân quyền Việt Nam không thể không nói đến cụ Nguyễn Tế Công. Cụ Nguyễn Tế Công, tên thật là Nguyễn Tế Vân, là sư huynh của Diệp Vấn- bậc Thầy của môn phái Vịnh Xuân quyền. Những năm 30 của thế kỷ 20, cụ Nguyễn Tế Vân sang Việt Nam dạy một số người Hoa tập võ. Năm 1939, cụ Nguyễn Tế Vân định cư tại Việt Nam, trở thành sư tổ Vịnh Xuân quyền Việt Nam. Năm 1939 đến năm 1954, cụ Nguyễn Tế Vân dạy người Hoa và người Việt Nam tập luyện Vịnh Xuân quyền tại Hà Nội. Sau này, một số học trò của cụ Nguyễn Tế Vân cũng tự mở lớp dạy Vịnh Xuân quyền tại Hà Nội. Năm 1954, cụ Nguyễn Tế Vân đưa gia đình và một số học trò vào miền Nam Việt Nam, tiếp tục dạy Vịnh Xuân quyền. Như vậy, Vịnh Xuân quyền bắt nguồn từ Trung Quốc đã bám rễ, phát triển tại miền Nam và miền Bắc Việt Nam.

Võ sư Đinh Trọng Thuỷ đã theo học trò của cụ Nguyễn Tế Vân (1) học Vịnh Xuân quyền, hiện nay năm nào anh cũng sang Trung Quốc giao lưu với Võ sư Vịnh Xuân quyền Trung Quốc. Võ sư Đinh Trọng Thuỷ nói:

“Khi nhỏ, tôi bắt đầu học Vịnh Xuân quyền từ một cơ duyên đặc biệt, lúc đầu tôi học Boxing, nhưng sau khi tôi gặp được cao thủ của Vịnh Xuân quyền, tôi đã bị họ chinh phục hoàn toàn, và tôi nhận ra rằng tôi phải đến với Vịnh Xuân, vì Vịnh Xuân không những giúp tôi tăng cường sức khoẻ, mà còn dạy tôi căn bản của võ thuật. Tôi bắt đầu học Vịnh Xuân quyền cách đây 25 năm, tôi được tiếp xúc và theo học Vịnh Xuân của một cao thủ của Việt Nam, đó là sư phụ Trịnh Quốc Định, Thầy Trịnh Quốc Định là học trò của cụ Trần Văn Phùng, một học trò của cụ Nguyễn Tế Công ở Phật Sơn. Chúng tôi đã từng sang tận Phật Sơn để gặp học trò và con cháu của cụ Nguyễn Tế Công. Sau đó, chúng tôi còn sang Hồng Công để học thêm Vịnh Xuân quyền của một số học trò của Thầy Lương Đĩnh. Năm nào tôi cũng sang Phật Sơn giao lưu với Hội Tinh võ Phật Sơn, ở đó có rất nhiều sư phụ như Hội trưởng Lương Húc Huy, sư phụ Trần Hữu Quân, sư phụ Hoàng Niệm Di, sư phụ Diêu Trung Cường v.v.”

Anh Trần Quốc Dũng 27 tuổi, là một người Pháp gốc Việt, anh từng theo Võ sư Trịnh Quốc Định tập luyện Vịnh Xuân quyền. Anh đã học Vịnh Xuân quyền 17 năm, hiện là sư huynh tại Võ đường Vịnh Xuân Kung fu Thăng Long. Anh nói, Vịnh Xuân quyền là một môn võ thuật động tác tự nhiên, có thể khiến người ta có trạng thái tâm lý cân bằng, tôi rất thích.

“Lúc nhỏ, sau khi được một số bạn giới thiệu về Vịnh Xuân quyền, tôi đã theo Thầy Trịnh Quốc Định học võ, Thầy Trịnh Quốc Định là sư phụ của Võ sư Đinh Trọng Thuỷ. Tôi rất thích Vịnh Xuân quyền, bởi vì luyện tập Vịnh Xuân quyền có thể khiến người ta có được  trạng thái tâm lý cân bằng. Vịnh Xuân quyền hơi giống Thái Cực quyền, tôi rất thích Thái Cực quyền, cũng thích Vịnh Xuân quyền, bởi vì trong Vịnh xuân quyền chứa đựng nhiều thứ của Thái Cực quyền. Tôi luôn kiên trì luyện tập Vịnh Xuân quyền, bởi vì nó rất có lợi đối với sức khoẻ. Lúc tôi học tuổi còn nhỏ, nhưng thấy rất dễ học vì Vịnh Xuân quyền là môn võ thuật động tác rất tự nhiên. Nếu bạn hiểu rõ cơ thể mình, thì bạn sẽ tập Vịnh Xuân quyền rất tốt.”

Ở Việt Nam có rất nhiều người thích Vịnh Xuân quyền như anh Trần Quốc Dũng. Võ sư Đinh Trọng Thuỷ nói, cũng chính vì ở  Việt Nam có rất nhiều người luyện tập Vịnh Xuân quyền, nên tôi mới mở Võ đường dạy Vịnh Xuân quyền. Anh nói:

“Ở Việt Nam có rất nhiều người luyện tập Vịnh Xuân, hiện nay  ở Việt Nam Vịnh Xuân có 3 trường phái nhưng đều bắt nguồn từ gốc của cụ Nguyễn Tế Công, do ba người dạy, 3 trường phái đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, tôi phát hiện thấy rất nhiều người đam mê võ thuật thích Vịnh Xuân quyền, sau khi Võ đường Vịnh Xuân phát triển tốt, chúng tôi sẽ dạy  thêm Triệt Quyền Đạo. Vịnh Xuân quyền chúng tôi dạy ở đây là Vịnh Xuân quyền truyền thống của cụ Nguyễn Tế Công ở Phật Sơn, chúng tôi đã kết hợp thêm một số kỹ thuật hiện đại, để phù hợp với thời cuộc bây giờ, có thêm hơi hướng của Triệt Quyền Đạo do Lý Tiểu Long sáng lập.”

Anh Trịnh Đức Trung, năm nay 19 tuổi, là sinh viên năm thứ hai chuyên ngành Công nghệ thông tin trường Đại học Bách khoa Hà Nội, anh đã theo Võ sư Đinh Trọng Thuỷ học Vịnh Xuân quyền  được 6-7 tháng, anh nói rất thích Vịnh Xuân, sau này sẽ tiếp tục luyện tập để đạt trình độ bậc trung. Nói đến nguyện vọng theo học ban đầu và thu hoạch của mình, anh Trịnh Đức Trung nói:

” Vịnh Xuân quyền lấy nhu làm chủ, những động tác nhu này giúp cơ thể cường tráng khoẻ mạnh, sức khoẻ luôn là quan trọng nhất. Học võ trước tiên là để tăng cường sức khoẻ, em cũng muốn rèn luyện để có được một cơ thể khoẻ mạnh, ngày nhỏ em rất thích võ công, rất thích học võ, sau này có thời gian em sẽ cố gắng theo học Vịnh Xuân, em thấy sức khoẻ mình đã tốt hơn, linh hoạt hơn, rắn rỏi hơn, cảm thấy tự tin hơn trong cuộc sống.”

Khi mọi người nhắc đến Vịnh Xuân quyền, thường nói đến đặc điểm của nó là ra quyền rất nhanh, phòng thủ chặt chẽ, có cương có nhu, tốn ít sức. Khi phóng viên hỏi quan điểm của Võ sư Đinh Trọng Thuỷ về Vịnh Xuân quyền, Võ sư Đinh Trọng Thuỷ nói:

” Theo tôi, Vịnh Xuân quyền là một môn quyền thuật kết hợp cả cương và nhu rất tốt, đặc điểm của nó là sử dụng phương pháp nhu mềm, có thể khiến một người bé nhỏ hoàn toàn có cơ hội chiến thắng một người lực lưỡng. Cảm nhận của tôi khi tập Vịnh Xuân quyền, không những có thể có được một cơ thể khoẻ mạnh, mà còn có được trang thái tinh thần tốt.”

(1)   Theo học học trò của học trò cụ Nguyễn Tế Công

Nguồn: Đài phát thanh và truyền hình trực tuyến quốc tế Trung Quốc
http://vietnamese.cri.cn/621/2010/11/05/1s147597_2.htm

Tổ khai sơn Vịnh Xuân quyền Việt Nam

Ngôi mộ đơn sơ với dòng chữ Hán “Nguyễn Tế Công chi linh mộ” nằm khuất giữa vô vàn nấm mộ trong nghĩa trang người Hoa Quảng Đông ở Lái Thiêu, Bình Dương. Ít ai biết người nằm dưới mộ kia lúc sinh thời là nhân vật truyền kỳ lừng danh trong chốn võ lâm, người đầu tiên gieo hạt giống Vịnh Xuân quyền trên đất Việt.

Nguyễn Tế Công cùng với “Vịnh Xuân tam hùng” là người em ruột Nguyễn Kỳ Sơn, sư
đệ Diệp Vấn (Diệp Vấn là thầy của Lý Tiểu Long) và đệ tử Diêu Tài đã có công lớn truyền bá Vịnh Xuân quyền hiện diện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Gia thế hiển hách

Môn đồ gọi ông là Tế Công, Nguyễn Tế Công… nhưng tên thật của ông là Nguyễn Tế Vân (còn gọi Đậu Bì Tế, Nguyễn Lão Tứ), sinh năm 1877 tại Phật Sơn, Quảng Đông, Trung Quốc. Theo một tài liệu tiếng Hoa thì do cái tên “Tế Vân” đọc theo giọng Quảng Đông đồng âm với từ “trệ vận” (vận xấu, vận đen), nên ông thường tự xưng là Nguyễn Tế mà bỏ chữ “vân” đi.

Thân phụ Nguyễn Tế Vân là Nguyễn Sủng Minh, đỗ cử nhân triều Mãn Thanh, là thương nhân giàu có nổi tiếng ở Phật Sơn, được triều đình ban hàm tứ phẩm Trực phụng đại phu, tham dự coi quản về giáo dục, văn hóa, tôn giáo và bưu chính ở hai tỉnh Hà Bắc và Liêu Ninh. Hai anh em Nguyễn Tế Vân và Nguyễn Kỳ Sơn từ nhỏ ham mê võ thuật, Nguyễn Sủng Minh từng bỏ ra đến 400 lạng bạc trắng để mời cao thủ Vịnh Xuân xà hình quyền là Hoắc Bảo Toàn về nhà dạy võ cho con. Cả hai tiến bộ rất nhanh, nhưng võ công thực sự thành tựu khi gặp cơ duyên được sự chỉ giáo của đại sư Phùng Thiếu Thanh.

Phùng Thiếu Thanh vừa là võ quan trấn áp tội phạm, vừa là cao thủ danh trấn giang hồ được đương thời xưng là “Đệ nhất danh bộ”. Ông được chân truyền tuyệt kỹ Vịnh Xuân quyền từ Đại Hoa Diện Cẩm (Lục Cẩm), Đại Hoa Diện Cẩm cùng Hoàng Hoa Bảo được truyền từ Lương Bác Trù, Lương Bác Trù được truyền từ Nghiêm Vịnh Xuân, Nghiêm Vịnh Xuân được truyền từ Nghiêm Nhị, Nghiêm Nhị được truyền từ Miêu Thuận, Miêu Thuận được truyền từ Ngũ Mai sư thái. Đó là đồ biểu của Vịnh Xuân quyền chính tông.

Ngũ Mai sáng chế quyền pháp này biểu hiện đặc trưng thể năng nữ tính, nếu muốn trong thời gian ngắn nhất khắc chế được thế công mạnh bạo tất phải kết hợp lực điểm (điểm phát lực)-lực giác (góc phát lực)-lực cự (cự ly phát lực) cùng với xúc giác (độ nhạy bén), biến thế mã bộ và góc độ công thủ khéo léo. Môn quyền này hình thức bên ngoài tựa hồ uyển chuyển nhẹ nhàng nhưng thực chất là loại quyền pháp chú trọng đến hiệu năng tấn công, sức đả thương rất lớn. Do đó về lý luận và kỹ thuật Vịnh Xuân quyền đều có khác biệt so với quyền khác.

Phùng Thiếu Thanh là tay phải của đại thần Lạc Bỉnh Chương (đồng liêu của Tăng Quốc Phiên) từ năm Hàm Phong thứ 8 (1858), khi ông này làm tuần phủ Hồ Nam rồi án sát Hồ Bắc, bố chính Quý Châu, tổng đốc Tứ Xuyên. Phùng Thiếu Thanh từng là Tổng bộ đầu Ty án sát đề hình, phụ trách trị an, hình ngục; từng vào sinh ra tử, dùng võ công Vịnh Xuân trấn áp và truy bắt tội phạm, lục lâm, để lại nhiều giai thoại. Có thể nói từ năm 1858 đến năm 1867, Phùng Thiếu Thanh đã viết vào lịch sử Vịnh Xuân quyền những trang hào hùng nhất.

Nguyễn Sủng Minh với Lạc Bỉnh Chương vốn là thông gia (chị cùng cha khác mẹ của Nguyễn Tế Vân là Nguyễn Sính Như lấy con trai của Lạc Bỉnh Chương là Lạc Thiên Trị) nên có quen biết Phùng Thiếu Thanh. Sau khi Lạc Bỉnh Chương qua đời, Phùng Thiếu Thanh mất chỗ dựa ở quan trường, chỉ một năm sau phải từ quan, lưu lạc sang tận Miến Điện sinh sống, đến năm 70 tuổi mới về quê. Khi Thiếu Thanh đến Phật Sơn bái mộ họ Lạc, Nguyễn Sủng Minh biết tin đến bái kiến, thỉnh về phủ dạy võ cho con mình. Phùng Thiếu Thanh một đời rong ruổi, không vợ không con, nên đem hết tâm huyết truyền thụ Vịnh Xuân cho Nguyễn Tế Vân, Nguyễn Kỳ Sơn và mấy người nữa đều là con cháu danh gia vọng tộc ở Phật Sơn.

Hành Phương Nam

Khoảng những năm 1930, nhận lời mời của “Nam Phiên Thuận Đồng phân hội” – một tổ chức công nhân người Hoa ở vùng mỏ than Quảng Ninh, Tế Công sang Việt Nam. Giã từ cuộc sống sang giàu, từ đây ông dấn thân vào mục tiêu cao cả là bảo vệ những người lao động cô thế và phát triển Vịnh Xuân ở phương Nam. Thời ấy, công nhân ở vùng mỏ thường bị các nhóm xã hội đen bức hiếp, nhiệm vụ của Tế Công là dàn xếp, phá giải các cuộc đụng độ, đồng thời truyền dạy Vịnh Xuân cho công nhân người Hoa. Có lần nhóm công nhân và băng xã hội đen đụng độ dữ dội, cảnh sát chính quyền Pháp phải dùng vũ lực trấn áp tại hiện trường, Tế Công dù hai tay bị còng vẫn đánh trọng thương nhiều tên côn đồ, khiến danh tiếng nổi như cồn. Sau đó, bên cảnh sát thả ông ra với điều kiện là về Hà Nội truyền thụ Vịnh Xuân công phu cho một số sĩ quan cao cấp. Theo võ sư Nguyễn Ngọc Nội, chủ nhiệm võ đường Vịnh Xuân Nội gia quyền thì từ năm 1939-1954, Tế Công ở tại Hàng Buồm, Hà Nội dạy Vịnh Xuân cho người Việt và người Hoa. Tiêu biểu cho những cao đồ đầu tiên của Tế Công  ở Hà Nội là võ sư Trần Thúc Tiễn, Hồ Hải Long, Vũ Bá Quý, Trần Văn Phùng, Ngô Sĩ Quý, Cam Thúc Cường…Nhiều người đã thành môn lập phái như Phật gia Vịnh Xuân quyền của Trần Thúc Tiễn, Vịnh Xuân Vũ gia thân pháp của Vũ Bá Quý, Vịnh Xuân Phạm gia của Phan Dương Bình, Vịnh Xuân Ngô gia hoàng pháp của Ngô Sĩ Quý…

Sau năm 1954, Tế Công đưa gia đình và một số môn đồ vào Nam, hành nghề đông y và dạy võ ở Đồng Khánh, Chợ Lớn. Tại đây, những đệ tử nổi tiếng của Tế Công có Lục Viễn Khai, BS Nguyễn Bá Khả – Bộ trưởng Bộ Y tế chính quyền Sài Gòn, Đỗ Bá Vinh – giáo sư kiến trúc…Ngày 23-6-1959, Tế Công qua đời, thọ 83 tuổi. Ông có người con trai là Nguyễn Chí Thành, nhưng không truyền võ công cho con. Ông có để lại bộ ảnh do chính ông thực hiện bài Đả mộc nhân (đánh người gỗ) 108 thế, là bài quyền cao cấp trong hệ thống quyền thuật Vịnh Xuân.

Theo võ sư, PGS, TS Nguyễn Mạnh Nhâm, chủ nhiệm Câu lạc bộ Vịnh Xuân Hà Nội thì hiện có khoảng 20 chi phái Vịnh Xuân quyền.  Võ sư Nhâm đã từng hành hương về Phật Sơn viếng cố hương của Sư tổ Tế Công, thắp hương tại võ đường Vịnh Xuân Diêu Kỳ do đệ tử của Tế Công lúc chưa sang Việt Nam là Diêu Tài sáng lập. Trong khi Tế Công phát triển Vịnh Xuân quyền ở Việt Nam và Quảng Tây, thì em ông là Nguyễn Kỳ Sơn (1887-1956), sư đệ Diệp Vấn (1893-1972) và đệ tử Diêu Tài (1890-1956) đã bành trướng môn quyền này tại nhiều quốc gia, nhất là từ khi đệ tử Diệp Vấn là Lý Tiểu Long thành danh trên phim trường với những bộ phim kungfu thuộc hàng kinh điển thế giới.

Nội công thâm hậu

Ngoài những bài bản trấn sơn của bản môn như Tiểu niệm đầu, Tiêu chỉ, Tầm kiều, Ngũ hình quyền, Đả mộc nhân thung, Lục điểm bán côn, Bát trảm đao… thì luyện nội công là phần rất quan trọng trong Vịnh Xuân quyền của Tế Công truyền dạy. Ông đã để lại nhiều giai thoại về khả năng vận khí chịu đòn gần như huyền thoại. Tương truyền khi đã đến tuổi 80, khi dạy Tế Công vẫn để cho môn sinh ra đòn hết sức vào người. Đại sư Nam Anh kể rằng thầy dạy Vịnh Xuân quyền cho ông là quyền sư Hồ Hải Long (tên thật là Nguyễn Duy Hải, 1917-1988), người Ninh Bình. Trước khi thụ giáo Tế Công, Hồ Hải Long đã là một lực sĩ đồng thời là một cao thủ võ thuật phái Hàn Bái, được mệnh danh là Hải Nhật. Vào năm 1941 Tế Công được gia đình mời về dạy võ,  Hải Nhật thấy vị thầy Tàu già yếu nên ngạo nghễ ưỡn ngực thách thức: “Ông có chịu nổi quả thôi sơn này hay không?”. Chỉ tay vào lồng ngực gầy gò của mình, Tế Công ra dấu sẵn sàng chịu ba quả đấm. Hải Nhật tung ngay một cú đấm sấm sét vào người ông nhưng lập tức bị chận đứng như va vào tường đồng vách sắt. Điên tiết, anh ta lao vào và kết quả là bị bắn văng vào gụ thờ, nằm sõng soài dưới đống đồ đạc đổ lỏng chỏng mà vẫn chưa hết bàng hoàng. Từ đó Hải Nhật mới tâm phục khẩu phục, theo Tế Công luyện võ. Vào năm 1947, Hải Nhật đã oanh liệt đoạt giải Vô địch kiếm thuật mười tỉnh đất Bắc (tại chợ Me, Vĩnh Yên) và biệt danh “Hồ Hải Long” đã xuất hiện từ đấy.

Thượng Văn

Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/thethao/Pages/200937/20090908091744.aspx

Vĩnh Xuân Việt Nam: Những điều suy nghĩ

Võ sư Nguyễn Ngọc Nội đánh mộc nhân

Võ sư Nguyễn Ngọc Nội đánh mộc nhân

Như có cơ duyên, tạp chí Ngày Nay có rất nhiều bài viết về môn phái Vĩnh Xuân ở những góc độ khác nhau, của người trong môn, của người ngoài môn.  Là một người trong môn phái Vĩnh Xuân, tôi rất trân trọng tạp chí Ngày Nay trước những gì mà tạp chí đã giành cho môn phái Vĩnh Xuân.

Trong số Tết Ất Dậu (No. 2 + 3 + 4, từ 15/1 – 30/2/2005) tạp chí Ngày Nay đã đăng tải một số bài viết về môn Vĩnh Xuân, trong đó đã mạnh dạn đưa ra hình ảnh “thực trạng và những vấn đề tiềm ẩn” của môn Vĩnh Xuân Việt Nam dưới góc nhìn của tác giả Nguyễn Giang.  Là một võ sư của môn phái Vĩnh Xuân, tôi thấy cũng cần đưa ra một số ý kiến trên những vấn đề “thực trạng” và “tiềm ẩn” mà tạp chí Ngày Nay đề cập đến.  Tất nhiên, đây hoàn tòan là những suy nghĩ cá nhân, song trên góc độ là một người có tâm huyết với môn phái.

Về tên gọi và lịch sử môn phái

Tôi nghĩ đã đến lúc, không nên tranh luận nhiều về tên gọi.  Ai đã gọi là Vĩnh Xuân hãy cứ tiếp tục gọi là Vĩnh Xuân, ai đã gọi là Vịnh Xuân hãy cứ tiếp tục gọi là Vịnh Xuân.  Sư phụ của ta gọi sao, ta hãy gọi đúng như vậy.  Tất cả đều có lý của mình.  Dù gọi là Vĩnh Xuân hay Vịnh Xuân thì đây đều là trong môn phái do sư tổ sáng lập là Ngũ Mai Sư Bá.  Có như vậy, chúng ta mới không thấy xa nhau vì một tương lai của môn phái do Sư tổ Ngũ Mai Sư Bá sáng lập.

Cho đến nay, về cơ bản chúng ta chưa có những tư liệu xác thực về lịch sử môn phái, mà hầu hết là các truyền thuyết.  Một thực tế khó phủ nhận là những điều kể lại bị phụ thuộc rất nhiều vào người kể tại thời điểm kể lại như: sự ghi nhớ trước đây khi được nghe kể; tư duy kể lại; khả năng diễn đạt. sức khỏe lúc kể, v.v và v.v.  Tôi chắc rằng không ai dám khẳng định sự truyền lại là 100% những điều đã được nghe (chỉ có thể nói là “cơ bản như vậy”).  Do đó, các nhánh đã đưa ra các phả hệ theo góc độ của nhánh mình, tôi nghĩ chúng ta cùng nên tôn trọng.  Ngay như thời điểm Sư tổ Nguyễn Tế Công sang Việt Nam (là thời điểm gần ta nhất) cũng có những tư liệu khác nhau.  Người cho là từ 1907, người cho  là 1939. Ai đúng ai sai đây ?  Cơ sở đánh giá ở đâu?  Nhân đây tôi cũng xin nói lại một tìm hiểu về Sư tổ Nguyễn Tế Công của một người có nhiều nghiên cứu về võ học, đã từng làm công tác phụ trách về võ thuật, đã được học nhiều môn võ, trong đó có hơn một năm học sư phụ tôi (Cố võ sư Trần Thúc Tiển).  Tuy nhiên việc học sư phụ tôi chỉ là tìm hiểu, nghiên cứu.  Tóm tắt tìm hiểu về Sư tổ Nguyễn Tế Công như sau:  Vào những năm 1930, Sư tổ Nguyễn Tế Công là người rất giỏi võ ở Trung Quốc.  Lúc này Người (Sư tổ Nguyễn Tế Công) ở vùng Đông Bắc Trung Quốc.  Năm 1937, người Nhật chiếm đóng vùng Đông Bắc Trung Quốc, biết được Sư tổ Nguyễn Tế Công là người giỏi võ, đã cho mật vụ đến bắt.  Hay tin, Người đã bỏ trốn xuống phía Nam (Phật Sơn – Trung Quốc).  Một thời gian sau, người Nhật dò ra tung tích của Người, lại cho người đến bắt.  Người buộc phải rời Phật Sơn và đi sang Việt Nam lánh nạn cuối năm 1939.  Và Người ở Việt Nam, truyền thụ võ công cho đến lúc quy tiên (năm 1959).  Nếu tìm hiểu này là đúng, thì đúng như sư phụ tôi truyền lại, cuối năm 1939, Sư tổ Nguyễn Tế Công mới sang Việt Nam.

Ngay như việc gọi thứ tự các đời cũng chưa thống nhất.  Nếu tính từ Sư tổ Ngũ Mai Sư Bá là đời thứ nhất thì đến Sư tổ Nguyễn Tế Công là đời thứ 6.  Nếu tính từ Sư tổ Nghiêm Vĩnh Xuân là đời thứ nhất thì Sư tổ Nguyễn Tế Công là đời thứ 5.  Cách gọi này phụ thuộc vào việc định đời đầu tiên từ đầu.  Tất nhiên việc này không khó, song cũng phải có sự thống nhất chung.  Nếu cứ tranh luận mà không ai đưa ra được cứ liệu chính xác, đảm bảo sự tin cậy thì sẽ không có hồi kết.  Chúng ta phải cùng nhau thấy rằng: Sư tổ Nguyễn Tế Công là Sư tổ Vĩnh Xuân Việt Nam.  Nhờ có Người mà trong kho tàng võ học Việt Nam có được môn võ quý: môn Vĩnh Xuân.

Hiện tại Vĩnh Xuân Việt Nam, theo tôi biết, có các chi nhánh:

  • Ở Hà Nội có các chi nhánh: chi nhánh của sư phụ tôi (cố võ sư Trần Thúc Tiển); chi nhánh của cố võ sư Trần Văn Phùng và chi nhánh của cố võ sư Ngô Sỹ Quí.  Các cố võ sư đều là học trò của Sư tổ Nguyễn Tế Công.
  • Ở Hải Dương có chi nhánh của cố võ sư Vũ Bá Quý.  Cố võ sư Vũ Bá Quý cũng một thời là học trò của Sư tổ Nguyễn Tế Công, song hiện nay, chi nhánh của cố võ sư Vũ Bá Quý không lấy tên Vĩnh Xuân (hay Vịnh Xuân) mà lấy tên là “Vũ Gia Thân Pháp”.
  • Ở TP Hồ Chí Minh có chi nhánh của võ sư Nam Anh (võ sư Nam Anh cho biết học Vĩnh Xuân từ cố võ sư Hồ Hải Long, một học trò của Sư tổ Nguyễn Tế Công, và học từ Nguyên Minh Đại Sư)…

Các chi nhánh này cũng đã và đang phát triển, hình thành các thế hệ dậy và học tiếp theo.

Về Hệ thống Quyền thuật

Qua nghiên cứu, tìm hiểu, tôi được biết hiện nay cơ bản có những hệ thống quyền thuật chính như sau:

  • Ở Trung Quốc và Hồng Kông: hệ thống quyền thuật Vĩnh Xuân có các bài quyền Tiểu Niệm Đầu, Tầm Kiều, Tiêu Chỉ, Mộc Nhân Thung và 2 bài binh khí (Lục Điểm Bán Côn và Bát Trảm Đao).  Ngoài ra còn có những phương pháp tập luyện khác nữa. Tôi cũng được biết ở Trung Quốc các nhánh cũng có sự khác nhau một phần về nội dung trong các bài quyền.  Song về cơ bản như tôi đã trình bày ở trên.
  • Ở Việt Nam có những hệ thống quyền thuật như sau:

- Chi nhánh của sư phụ tôi gồm các bài:  Thủ Đầu Quyền, Ngũ Hình Quyền (có 6 bài gồm 5 bài của 5 hình là Long – Xà – Hổ – Báo – Hạc và một bài Ngũ Hình Tổng Hợp), các bài 108 (bài 108 tại chỗ, bài 108 tiến lùi, bài 108 mộc nhân), bài Khí Công Vĩnh Xuân Quyền, hai bài binh khí (Lục Điểm Bán Côn và Song Đao).

- Chi nhánh của  cố võ sư Ngô Sỹ Quý, về cơ bản cũng giống chi nhánh của sư phụ tôi. Cũng gồm các bài: Thủ Đầu Quyền, Ngũ Hình Quyền Tổng hợp, Long Quyền, Xà Quyền, Hổ Quyền, Báo Quyền, Hạc Quyền, Nhất Linh Bát (hay Một linh Tám) và một bài Mộc Nhân Thung.  Trong binh khí có hai bài: Bát Trảm Đao và Lục Điểm Bán Côn.

(theo http://www.vinhxuan.com2.info).

- Chi nhánh của cố võ sư Trần Văn Phùng và cố võ sư Vũ Bá Quý, do tôi chưa tìm hiểu được nên chưa được rõ hệ thống quyền thuật của hai chi nhánh này.

- Hệ thống quyền thuật của “Võ đường Thiếu Lâm Vịnh Xuân Nam Anh Kung fu” bao gồm các bài Tiểu Hình Ý, Tiểu Mai Hoa, Đại Mai Hoa, Ngũ Hình Quyền, Ngũ Hình Tổng Hợp, hệ thống 108 mộc nhân, binh khí có Lục Điểm Bán Côn, Bát Trảm Đao (hệ thống theo bài viết của võ sư Nam Chính Trực trên tạp chí Ngôi Sao Võ Thuật No. 4/2002)

Trên đây là hệ thống quyền thuật cơ bản của một số chi nhánh Vĩnh Xuân Việt Nam.  Ngoài ra các chi nhánh đều có những phương pháp tập luyện khác, thậm chí có những phương pháp có tính bí truyền (như phương pháp tập nội công).
Như vậy ta thấy có những sự khác biệt (một phần) giữa các hệ thống quyền thuật Vĩnh Xuân.  Sự khác nhau, tôi nghĩ đó là điều tất yếu trong quá trình truyền bá võ công.  Nguyên nhân sâu xa là ở người truyền thụ.   Đó là: do mức độ được truyền dậy, do khả năng tiếp thu, do khả năng nhớ và truyền thụ, do sự giác ngộ, do thiên hướng, do mục đích, do hòan cảnh .v.v.  Tất cả đều rất đáng tôn trọng.  Tuy nhiên, trước hết, mỗi môn đồ phải biết tôn trọng những gì mà sư phụ mình đã truyền lại cho mình.  Và bằng tấm lòng với môn phái, với sư phụ, hãy luyện tập thật tốt những gì đã được sư phụ truyền dạy.   Sau đó, khi đã thuần thục, có thể được, thì tìm hiểu công phu của các nhánh khác.  Điều quan trọng là phải biết đó là của nhánh nào, và đến với tinh thần học tập: Tránh việc coi công pháp và kỹ thuật của nhánh khác lấy làm của mình. Tôi nghĩ như thế sẽ tốt hơn, sẽ rõ ràng hơn, và thể hiện sự tôn trọng sư phụ mình, tôn trọng các nhánh khác trong môn phái.

Về Sự Phát triển hệ thống quyền thuật

Mọi sản phẩm, nhất là sản phẩm trí tuệ đều không ngừng được hòan thiện.  Qua thời gian, mọi sự sửa đổi đúng đều được tồn tại, mọi sự sửa đổi sai đều bị đào thải.

Qua tìm hiểu, tôi thấy môn Vĩnh Xuân được hoàn thiện rất cơ bản qua các sư tổ ở Hồng Thuyền.  Bản chất của môn Vĩnh Xuân là cận chiến, là nội gia – nhu quyền.  Do đó, đòn thế đòi hỏi rất khuôn phép và có những quy tắc (yếu quyết) rõ ràng.  Mọi sự “sáng tạo’, phát triển không tuân thủ bản chất quyền thuật của môn phái đều sẽ làm hỏng đi hình ảnh về môn phái.  Tôi đồng ý với suy nghĩ của tác giả Nguyễn Giang viết trong Tạp chí Ngày Nay số Xuân Ất Dậu 2005, trong bài “100 năm sau: thực trạng và những vấn đề tiềm ẩn” “sáng tạo, đặc biệt là trong võ thuật, nếu không phải là từ sự chiêm nghiệm, tâm huyết của một võ sư đã đạt tới trình độ cao thâm nhất định, đôi khi còn có hại”.  Tôi muốn bổ sung thêm cái hại mà tôi cho là lớn nhất, đó là làm mất dần đi bản chất quyền thuật của môn phái, làm cho mọi người không còn thấy những gì là tinh túy võ thuật của môn phái Vĩnh Xuân.

Trong thực tế hiện nay, tôi tin rằng bản chất của quyền thuật Vĩnh Xuân sẽ không mất dần.  Hệ thống quyền thuật Vĩnh Xuân cũng không bị “dần rơi vãi”.  Tất nhiên, trong hòan cảnh xã hội hiện tại, cuộc sống kinh tế thị trường như cơn lốc lôi cuốn con người, liệu có bao người dám ra khỏi cơn lốc kinh tế, để bình tâm tĩnh trí mà theo đuổi môn phái và đi đến cùng với môn phái ?  Tuy vậy, tôi vẫn tin rằng môn phái Vĩnh Xuân sẽ vẫn luôn giữ được bản sắc của môn phái như đã có từ hàng trăm năm qua.  Cũng như mùa Xuân, không bao giờ mất đi bản chất của mùa Xuân, không bao giờ mà không có sự đâm chồi, nẩy lộc, sinh trưởng tươi đẹp và đầy sự quyến rũ.

Thay cho lời kết

Một số người lo có những trận “thư hùng” trong môn phái để khẳng định sự hơn hẳn giữa chi nhánh này với chi nhánh khác, tôi nghĩ rằng đây là sự lo quá xa.  Tất nhiên, trong cuộc sống, trong một tổ chức, trong một môn phái, không phải không có những con người không tốt lành.  Song đó chỉ là số ít, số rất ít.  Không một ông thầy võ nào không đòi hỏi người trò phải có võ đức.  Chính sự đòi hỏi này buộc người thầy càng phải nêu cao võ đức của chính người thầy.  Võ đức, nhất lại là võ đức của Vĩnh Xuân Phật Gia càng không thể để xẩy ra những trận “thư hùng” chỉ vì cao thấp trong môn phái.  “Cao nhân tắc hữu cao nhân trị”, “núi này cao, còn có núi khác cao hơn”, “giữ được mình tức là thắng được người”…Con nhà võ, mấy ai không hiểu những điều này.  Tôi tin rằng những môn đồ Vĩnh Xuân Phật Gia sẽ luôn vì sự trong sáng của môn phái, gạt bỏ những sự khác biệt tất yếu, đoàn kết cùng nhau xây dựng môn phái, góp phần phát triển môn phái vững mạnh, xứng đáng với sự ngưỡng mộ của nhứng người hâm mộ môn Vĩnh Xuân trong nước và trên thế giới.  Nếu cần thiết phải tìm ra người đứng đầu môn phái Vĩnh Xuân Việt Nam (như Chủ tịch Hội Vĩnh Xuân Việt Nam) sẽ có nhiều cách, nhiều hình thức để chúng ta tìm ra người xứng đáng với sự tin cậy của mọi môn đồ Vĩnh Xuân Việt Nam.  Và người đó phải biết vì lòng tin của các môn đồ mà làm tròn trách nhiệm được giao.  Cùng nhau xây dựng, phát triển môn phái Vĩnh Xuân mãi tươi đẹp, quyến rũ và tràn đầy sinh lực như mùa Xuân.

Tác giả: Kỹ Sư – Võ sư Nguyễn Ngọc Nội
Nguồn: Tạp chí Ngày Nay số 13/2005, 1-15/7/2005 với đầu đề “Quyến rũ Vĩnh Xuân quyền”

100 năm sau: Thực trạng và những vấn đề tiềm ẩn (của Vịnh Xuân Việt Nam)

Nowhere to go

Vịnh Xuân Quyền (VXQ) ở Việt Nam, trong bối cảnh hiện nay, với những hạn chế do lịch sử để lại, có thể nói còn có một số hạn chế cần có biện pháp tháo gỡ.

Ngày càng …”sáng tạo”

Hiện nay ở Việt Nam, đặc biệt tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, đang có khá nhiều người tập luyện VXQ.  Tuy cơ bản đều là võ học do sư tổ Nguyễn Tế Công truyền dạy, nhưng với hòan cảnh du nhập của Vịnh Xuân vào Việt Nam như đã trình bày, đến nay các chi phái, các võ đường luyện tập và truyền lại cũng có sự khác biệt, chính xác hơn là không hòan tòan giống nhau.  Chương trình và “giáo án” giảng dạy, thậm chí ngay cả các đòn thế ứng dụng cũng có những nét dị biệt bởi có nơi chú trọng nhiều đến đòn thế, có nơi chú trọng nhiều đến nội công.  Ngay thế tấn, đã có nơi cao nơi thấp, đòn thế rộng hoặc hẹp khác nhau đôi phần…Chẳng có “tiêu chuẩn” nào để xác nhận đâu đúng là chân truyền, đâu là sáng tạo của các thế hệ võ sư sau này hoặc du nhập từ các môn phái khác.  Về vấn đề này, nhiều người lý giải rằng: “VXQ là một môn võ mà yếu quyết-võ lý-võ triết là quan trọng, đòn thế lại không nhiều mà lại rất phóng khoáng (quyền do tâm phát), chiêu thức không quá gò bó (vô chiêu vô thức, tâm ứng thủ) nên việc xác định đâu là chân truyền, đâu là sáng tạo, cải tiến là ..không cần thiết”.  Có lẽ không phải như vậy, bởi sáng tạo, đặc biệt trong võ thuật, nếu không phải từ sự chiêm nghiệm, tâm huyết của một võ sư đã đạt tới một trình độ cao thâm nhất định, đôi khi có hại, làm suy giảm về thể chất của người tập luyện, đặc biệt là những người trẻ tuổi.

Vịnh Xuân đang dần rơi vãi ?

Với bối cảnh truyền sang VN như của VXQ, bối cảnh mà nếu ví von như một võ sư ngay trong môn phái Vịnh xuân là “sờ voi”…  Ai học đến đâu thì biết đến đó (tất nhiên là cũng có những cao đồ được truyền dạy đầy đủ)… Ngày nay trong môn phái, tuy không ai nói ra, nhưng vẫn ngầm chia thành từng chi nhánh, từng chi võ.  Hơn nữa, theo quan niệm cổ của giới võ học, các võ sư vẫn giấu nhau những sở học mà mình đang có, nghĩa là chẳng ai nói với ai, chẳng ai truyền lại cho nhau. Điều này là hết sức bất lợi.

Một nguy cơ có thật

Từ việc hoạt động phân tán, không đồng nhất, mạnh ai người nấy luyện tập theo “bí kíp” riêng của mình, mình tâm đắc nên ngoài một số bậc “cao thủ” trong làng võ VXQ, thì ở những thế hệ thứ 5, thứ 6…, dù chưa xảy ra những trận “thư hùng”, nhưng quan niệm “vũ bất đệ nhị” (nghĩa là chả ai phục ai) càng được dịp “phát triển”.  Về sau này, với hòan cảnh thực tại, ngày càng có thể kéo xa hơn, ai dám quả quyết rằng sẽ không có những bất hòa giữa các môn đồ của chính VXQ ? Ai dám phủ nhận rằng sẽ không có những mâu thuẫn ngầm trong “một nhà” ? Đây là điều chẳng ai mong muốn, nhưng lại là một vấn đề có thật…

Tác giả: Nguyễn Giang
Nguồn: Lược trích từ tạp chí Ngày Nay, số Xuân Ất Dậu, 15/1 – 30/2/2005

Một số giai thoại về cụ Tế Công

Học trò của Tế Công

Chuyện kể rằng: có một bài nửa từ,nửa kệ cho dân làng võ rằng:

 “Lực Bất Đả Quyền

Quyền Bất Đả Công

Luyện Quyền Bất Luyện Công

Đáo Lão Nhất Trường Không”

Nôm na hiểu,người có sức khỏe không đánh được người có võ, người có võ không đánh được người có công phu, luyện võ không luyện công phu, đến già coi như không biết gì.Môn Vĩnh Xuân là môn võ mà ngay từ bài đầu tiên đã luyện công phu, càng lâu thì công phu càng cao nhưng không mang ra biểu diễn được.  Vậy nên ai định học võ để đá cao, đấm vỡ ngói, nhảy cao, lăn nhanh, hét to và nở nang cơ bắp thì đừng nên tập môn Vĩnh Xuân.  Môn võ này vốn dành cho phái nữ, trông thì mềm dẻo nhưng cương nhu gồm đủ, cao thủ đương thời lại toàn nam giới. Ai thích môn Vĩnh Xuân nhất thiết phải biết đến Tôn Sư Tế Công, người mang Vĩnh Xuân vào Việt Nam và là một cây đại thụ của làng võ thế giới.

 Ông Tế Công bao nhiêu tuổi?

 Sang Việt Nam vào năm 1907, lúc đó ông Tế Công trạc 30 tuổi, nghĩa là ông phải sinh khoảng năm 1877.  Năm 1947, ông Tế Công 70 tuổi mới có con trai một tuổi nên đầu năm 1952 chụp ảnh chung với học trò, anh con trai ông còn bé tí.  Năm 1959 ông Tế Công bước sang tuổi 83 và sau đó mất ở Viện Đồng Khánh, Sài Gòn.

Tại sao Tế Công sang Việt Nam

Nghe nói ông vốn họ Hồ, sau khi xuất sư làm bảo tiêu kiếm sống. Từ Quảng Đông đến Vân Nam là con đường khắc nghiệt, đem theo một cặp Bát Trảm Đao và cây côn ông đã hạ thủ quá nhiều địch nhân, nên ông lánh sang Việt Nam tránh truy sát.  Vốn có nghề thuốc, ông ở tạm một nhà người Hoa ở Hàng Buồm và mở phòng mạch, bốc thuốc, chủ yếu chữa bong gân, gãy xương.  Lúc đầu ông chỉ dạy võ cho người Hoa, rồi mãi đến hai ba mươi năm sau mới dạy cho người Việt.

Tế Công đánh tây đen

Ông cả ngày chẳng nói câu nào, đi, đứng, ngồi cứ nhắm mắt như ngủ.  Ông thường mặc quần áo thụng, đội mũ vải sụp che cả mắt, hai tay lồng vào nhau, cứ lầm lũi đi trên hè phố Hàng Đào.  Có một anh tây đen trông lạ mắt cứ đi theo xem, rồi không nhịn được, anh tây đen vượt lên thò tay giật mũ trên đầu ông Tế Công, chỉ thấy ông chúi một tí anh tây đen chụp hụt, làm mấy lần liền đều hụt làm anh ta cáu tiết nên chặn hẳn lại vồ cả hai tay, bỗng một cùi chỏ bay ra làm anh ta té nhào còn ông Cống vẫn áo thụng chùm mũ lùi lũi đi trên hè phố.

 Tế Công so tay với Chung sư phụ

Chung sư phụ là một võ sư Hồng Gia chân truyền, những năm 1930, 1940, ông rất nổi tiếng trong giới Hoa Kiều ở Hà Nội.  Một lần Chung sư phụ gặp ông Tế Công ở Hàng Giầy, hai sư phụ đùa nhau thế nào mà cuối cùng là thi co tay.  Ông Tế Công mắt lúc nhắm lúc mở, trông hơi cười cười, Chung sư phụ lên gân, vận lực hét hây hây.  Tế Công cứ co lên co xuống trông rất bình thản, đoạn nói : “ Hây a, hòa lớ, không thắng được a.”

Tế Công cho Lý Văn Quảng đấm

Bốc xơ, Lý Văn Quảng dạy cho đám Sinh, Xuân ở khách sạn Đồng Lợi, một bữa nghe học trò khoe có ông Tế Công cho người khác đấm vào người thoải mái mà không làm sao.  Lý Văn Quảng không tin, bảo : “Vớ vẩn, cho quả móc thì ruột lộn lên phổi.” Một học trò dẫn đến, thấy ông Tế Công nhắm mắt nói cứ đấm, Lý Văn Quảng đấm một hồi mệt cả người rồi bị một đòn cầm nã kéo lại, rồi bị phất một cái ngã lăn.

Những ai là học trò của Tế Công?

Ông Cống dạy võ ở Hà Nội đến 47 năm, trước sau có khối học trò, thế nhưng bảo ai là đệ tử chân truyền thì ai cũng giơ tay cả, chẳng làm sao phân biệt được ai là nội đồ và ai là ngoại đồ nữa.  Chuyện kể ông Việt Hương so kiếm với viên sĩ quan Nhật bị phát hiện ra là dùng kiếm của Tế Công nên phải chuyển chỗ ở.  Chuyện ông Cẩm mở hàng ở phố Hàm Long, cũng theo học Tế Công, đòi học nội công nhưng ông Tài Cống không dạy, chỉ cho tập mộc nhân suốt ngày.  Mấy anh tây đi tập bốc xơ về nhìn thấy cứ lôi ông Cẩm ra chọc, bất đồ ông chặn đỡ hất tay ngã ráo cả.  Hồi dạy ở nhà bác Tiển ở Gia Ngư có các ông Quảngm Phòng, Liễn.  Trong tấm ảnh chụp năm 1952 có các ông Nghi, Lâm, Phùng, Tiển… Người hay ra biểu diễn cùng ông Tế Công là Lồ Xô Bùi, tức La Tú Mai con ông La Bá Cống.

Hiện nay chỉ có 4 chi phái Vĩnh Xuân đang hoạt động (ở ngoài bắc), đó là chi phái của bác Trần Thúc Tiển, chi phái của bác Phùng, chi phái của bác Ngô Sĩ Quí, và chi phái của bác Vũ Bá Quí đã đổi thành Vũ Gia Thân Pháp. (Ngoài ra còn một số chi phái Vĩnh Xuân ở trong nam)

(Cụ Tế Công khi vào nam cũng thu nhận thêm một số đệ tủ, trong số đó có ông Lục Viễn Khải, Đỗ Bá Vinh, và Hồ Hải Long)

Nguồn: Trích Ngôi Sao Võ Thuật

Các học trò của tôn sư Tế Công

Học trò của Tế Công

Bức ảnh trên, là bức ảnh tôn sư Tế Công và con trai (bác Thành) chụp cùng các học trò trước khi người vào nam, được võ sư Đỗ Tuấn lưu giữ mấy chục năm qua. Đây là lớp học trò người Việt Nam đầu tiên của tôn sư khi người sang Việt Nam (đầu những năm 30). Nhìn từ trái sang phải: người đầu tiên là cố võ sư Trần Văn Phùng, người thứ hai là ông Lâm, tiêp đến là ông Bình, ông Phương, ông Việt Hương và cuối cùng là cố võ sư Trần Thúc Tiển. Các học trò của tôn sư Tế Công, mỗi người một vẻ, mỗi người một sở trường.

Dưới đây là bốn câu thơ, không rõ của ai sáng tác ra, đã được lưu lại trong giới Vĩnh Xuân Bắc Kỳ, để nói về những sở trường khác nhau của các bậc tiền bối Vĩnh Xuân Bắc Kỳ, những người đã được tôn sư Tế Công truyền thụ những sở đắc về Vĩnh Xuân trước khi cụ di vào Nam. Những học trò này của Tôn Sư Tế Công đã góp phần truyền bá và làm dạng danh môn Vĩnh Xuân Việt Nam .

“Tiển Tròn, Phùng Mộc, Vũ Bay
Ngô hình, Hương y bắt tay thành tài
Ra đi ngày hãy còn dài
Bẻ cành mai trắng viết vài câu thơ”

Tiển tròn: Đây là nói về khả năng của cụ Trần Thúc Tiển đã sở đắc được nhiều về bộ tay Vĩnh Xuân do sư tổ Tế Công truyền dạy. Cụ Tiển cũng là người khá thành danh trong việc truyền bá Vĩnh Xuân ở Việt Nam, trong số này có một số người hiện đang dạy Vĩnh Xuân cũng khá nổi tiếng là võ sư Phan Dương Bình ở Mã Mây, võ sư Nguyễn Mạnh Nhâm, võ sư Sinh (con trai cụ Tiển), võ sư Xuân Thi và nhiều học trò khác.

Phùng mộc: Đây là nói về sở đắc của cụ Trần Văn Phùng trong việc tập luyện công phu với mộc nhân. Cụ Phùng,với biệt danh Độc Long Nhãn, là học trò lớn tuổi nhất trong số các học trò của tôn sư Tế Công. Trước khi đến với môn Vĩnh Xuân, cụ Phùng đã tùng học khá nhiều môn võ khác và thành danh trong giới cao thủ thời bấy giờ. Chỉ đến khoảng giữa những năm 1970 cụ mới bắt đầu truyền dạy Vĩnh Xuân. Hiện nay việc truyền dạy Vĩnh Xuân của dòng cụ Phùng được đảm đương bởi, võ sư Lê Kim Thành tại Nga, võ sư Đỗ Tuấn ở Quan Thánh, võ sư Trịnh Quốc Định ở làng Ngọc Hà và nhiều võ sư khác.

Vũ bay: Đây là nói về cụ Vũ Bá Quý ở Hải Dương, một học trò nổi tiếng khác của tôn sư Tế Công, được sở đắc những công phu về thân pháp. Sau nay đã lập ra môn Vũ Gia Thân Pháp. Học trò cụ Vũ Quý từng nổi tiếng ở Hà Thành trong những năm 1980 với ba quả đấm (hạ địch thủ trong ba quả đấm) như võ sư Mỹ, võ sư Diệu, võ sư Nguyên và các võ sư khác. Chính vì vậy Vũ Gia Thân Pháp còn được gọi là phái ba quả đấm.

Ngô Hình: Để nói về cụ Ngô Sĩ Quý ở Cầu Giấy, được sở đắc ngũ hình quyền của tôn sư Tế Công. Cụ Ngô Sĩ Quý cũng là một trong những người có công truyền bá Vĩnh Xuân mạnh mẽ ở Hà Nội. Các học trò hiện nay đang truyền dạy Vĩnh Xuân có võ sư Toàn, võ sư Dương Tuấn và nhiều võ sư khác. (Xem thêm bài viết Trò Chuyện Với Vĩnh Xuân Nhu Quyền Ngô Sĩ Quí)

Hương y: Đây là nói về bác sĩ Việt Hương, trước đây cũng là học trò của tôn sư Tế Công, nhưng sau nay cũng đã theo tôn sư vào Nam . Ông là người được cụ Cống truyền cho những sở đắc về kiếm thuật và tâm pháp. Không rõ dòng của bác sĩ Việt Hương có những ai và việc truyền bá Vĩnh Xuân ra sao. Nếu các bạn có ai biết về cụ Việt Hương và các học trò của cụ thì hãy chia sẻ cho các môn sinh Vĩnh Xuân được biết.

Rõ ràng những câu thơ trên đây chỉ là những lời lưu truyền, giúp cho các môn đồ Vĩnh Xuân nhớ về những người thầy của mình. Để tìm hiểu thêm về các vị tiền bối này và các dòng Vĩnh Xuân Bắc Kỳ, xin hay lần theo dấu chân của các vị, đến với những học trò của họ. Ngoài ra bạn đọc cũng có thể xem thêm bài viết về Vĩnh Xuân tại Việt Nam của võ sư Nguyễn Mạnh Nhâm để biết thêm về Vĩnh Xuân và các truyền nhân Vĩnh Xuân của Việt Nam .

Sau này nếu có điều kiện, tôi sẽ xin giới thiệu thêm rõ hơn về từng học trò của tôn sư Tế Công.