Posts Tagged ‘trần văn phùng’

Câu lạc bộ Vĩnh Xuân Hà Nội, Việt Nam, có thể được xem là một tổ chức Vĩnh Xuân chính thức đầu tiên ở Việt Nam, đã được nhà nước và sở Thể Dục Thể Thao thành phố công nhận, theo quyết định số 1049/QĐ/2002-STDTT ngày 20/08/2002. Đây là nơi hội tụ được nhiều truyền nhân của các chi Vĩnh Xuân Việt Nam tại phía bắc của Việt Nam.

 Xin giới thiệu lại một số đoạn Video biểu diễn của các chi phái Vĩnh Xuân tại buổi lễ ra mắt Câu lạc bộ Vĩnh Xuân Hà Nội, ngày 14.09.2003, tại nhà Thi Đấu Hà Nội, số 12 phố Trịnh Hoài Đức.

Bài Thủ Đầu Quyền do võ sư Trịnh Quốc Định biểu diễn.

Đây là những thước phim tư liệu giới thiệu về môn Vĩnh Xuân và một số chi phái Vĩnh/Vịnh xuân ở bắc Việt Nam.

Xin giới thiệu bài viết về môn Vịnh Xuân Quyền của Võ sư Trần Đắc Lợi, học trò của cố võ sư Trần Văn Phùng.

NGUỒN GỐC MÔN PHÁI VỊNH XUÂN

Người sáng lập ra môn phái là bà Nghiêm Vĩnh Xuân, một đệ tử tục gia của Thiếu Lâm Tự. Với tư chất thông minh, bà đã lãnh hội được tinh hoa của môn Thiếu Lâm, và cũng nhờ cơ duyên, bà được gặp Ngũ Mai Lão Ni, từ đó với tố chất trời cho, bà đã nghiên cứu và chế tác ra môn phái mới, đó là Vịnh Xuân quyền (hay còn gọi là Vịnh Xuân).

CON ĐƯỜNG VỊNH XUÂN VÀO VIỆT NAM

Vào những năm 40, cụ Nguyễn Tế Công (tên thật là Lương Nhữ Tế), vì phải chạy khỏi Trung Quốc, cụ đến Việt Nam và truyền thụ môn phái Vịnh Xuân Quyền cho sư phụ tôi là cụ Trần Văn Phùng, cùng một số vị khác.

Là một trong số những đệ tử của cụ Trần Văn Phùng, được sự chỉ bảo của cụ, tôi cố nắm bắt và học hỏi thêm ở các sư phụ khác cùng anh em huynh đệ để củng cố cho kiến thức võ học của mình. Trong quá trình luyện tập, tôi chỉ mới hiểu rằng:

Âm dương và hư thực, mỗi quyền thức đều thể hiện sự tản ra và hợp lại, dùng tiểu khuyên làm chủ công (cổ tay, bàn tay), đó là sự nương đủ và thả quyền ra. Cộng với sự hư mà thực (trống không mà đầy đủ), rõ ràng lực tay nhẹ nhàng mà đầy uy lực – đó chính là sức mạnh của nhu và cương. Khi tập niêm thủ tôi cảm nhận thấy rõ khi nhanh khi chậm, khi bên phải, khi bên trái, ở trên, ở dưới, ở đại khuyên, trung khuyên và nhất là ở tiểu khuyên đều có sự đối lập mà thống nhất. Tất cả những điều này cấu tạo nên nguyên tắc cơ bản độc nhất của Vịnh Xuân Quyền, cần phải lấy tâm dụng ý, nhất cử nhất động đều lấy ý làm chính, không được dùng lực, ý động trước rồi hình theo sau, như vậy mới có thể đạt được ý đến thì khí đến mà khí đến thì kình lực sẽ đến sau, tập luyện lâu sẽ thấu hiểu điều đó.

Với tất cả lòng say mê môn phái, tôi đã luyện tập được gần 20 năm nay và càng ngày càng thấy môn Vịnh Xuân quả là cao thâm, càng luyện tập tôi càng thấy mình chưa hiểu được là bao, chỉ với những bài tập không hoa mỹ, đơn giản, mà công năng ảo diệu vô cùng.

Với thời gian luyện tập, tôi xin viết một chút kiến thức mà bản thân đã cảm nhận được (chắc chỉ vào khoảng 20% lượng kiến thức võ học mà sư phụ tôi đã truyền dạy cho). Rất mong anh em cùng tập môn phái Vịnh Xuân đọc và góp ý. Tất cả thiển ý trên chỉ mong sao cho môn phái Vịnh Xuân mãi mãi tồn tại và phát huy theo con đường mà tông sư đã chỉ dạy.

BẢY ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VỊNH XUÂN QUYỀN

1.    Luyện thở:

  • Luyện kình: Hàng ngày luyện quyền
  • Xoay thân
  • Đơn niêm thủ

2.    Luyện tập du đẩy hai người:

Luyện thuật đảo đan tay, ra vào tay hợp lý, ném tay, tập quyền, di thân đảo bộ, quay tay để tháo lỏng vai, khuỷu tay và cổ tay.

3.    Luyện tập hai người:

Đánh đỡ tự nhiên, sơ cấp niêm thủ để hiểu rõ cách dính tay và ra đòn. Đồng thời vừa niêm vừa di chuyển thân, chân.

4.    Luyện tập ba bộ quyền pháp cơ bản:

  • Tiểu niệm đầu
  •  Tầm kiều
  •  Tiêu chỉ

Đặc biệt trong bài Tiểu niệm đầu, người tập phải nắm vững chính xác vị trí của khuỷu tay, nội dung chủ yếu là phòng ngự trung tuyến và các động tác công, phòng đơn và kình.

5.    Linh giác

Khi đã biết niêm tay, phải chú ý luyện linh giác (chú trọng tháo được 3 khớp, cánh tay phải thật lỏng, sau luyện đả thủ). Thông qua niêm tay phải chú trọng luyện Liên hoàn bát thủ pháp trong Vòng tròn xa luân.

6.    Luyện tập tán thủ và 108 mộc nhân thủ

Luyện tập 108 động tác đánh cây gỗ (mộc nhân) hoặc bàng thủ, với hai pháp: Định bộ thân thủ (không dùng lực, lấy hình và ý, dùng lực để luyện kình) và ra vào hợp lý kết hợp thân, chân, tay hợp nhất.  

7. Luyện tập vũ khí:

  • Bát trảm đao
  • Lục điểm bán côn

Bảy phần cơ bản trên, người tập phải chú ý:

  • Khi định bộ thân thủ (Kiềm dương tấn), hai người đều phải đứng gần, tỳ đẩy cho nhau, thông qua đẩy kéo sẽ nhận thức được lực đẩy, lực kéo, lực mượn từ trong đó, đồng thời sẽ đạt được sự vận dụng linh hoạt: cánh tay khúc mà không khúc, thẳng mà không thẳng, có lực mà không có lực ..vv.. đồng thời thân pháp lên bình xuống thuận, phải nắm vững trọng tâm, không mất cân đối.
  • Khi bước đi phải tiến thấp thoái cao, nhẹ nhàng, linh hoạt, trường đùi, đá bằng bàn chân nhẹ như lông hồng lại nặng như núi Thái sơn. Kết hợp với du đẩy hai người sẽ nắm vững lai lưu khứ tống của bộ pháp và thủ pháp.
  • Khi song thân niêm thủ, điều cao là cổ tay triển kình, đó chính là luyện tập cao cấp của cảm giác tay.

MỘT SỐ NGUYÊN LÝ CĂN BẢN
CỦA VỊNH XUÂN QUYỀN

Vịnh Xuân Quyền có phong cách độc đáo, các chiêu đa dạng, tổ chức đơn giản, vô chiêu vô thức, vận dụng sức mạnh linh hoạt, có tính đàn hồi cao, rất mạnh tính chiến đấu.

Với nguyên lý trường, trung, đoản:

  • Trường kiều: vận khí, luyện gân
  •  Trung kiều: xung quyền
  •  Đoản kiều: tự bảo vệ

Vận dụng đoản kiều để tránh mã, sở trường để phát huy kình lực, ngoài ra lấy cánh tay, cùi trỏ, cổ tay, bàn tay, ngón tay làm các loại thủ hình, cộng với thân pháp lật bản lề độc đáo, bộ pháp Kiềm dương tấn, khi chuyển bộ có dùng ý chân của hạc thần, đồng thời cảm giác bằng độ nhanh nhẹn của da thịt. Phát huy quyền thuật nội gia để tăng sức mạnh.

 ĐẶC ĐIỂM LUYỆN THÂN PHÁP CỦA VỊNH XUÂN

Buông lỏng thân, chùng chân khép gối, hai bàn chân bằng vai, bụng lỏng, cổ chân buông lỏng, bàn chân bám chặt đất. Từ cổ chân đến thân phải đàn hồi (đó là sự nhịp nhàng của thượng, trung, hạ).

Lấy ý đẩy khí, ý đến khí đến, lấy khí thôi lực, tay mắt cùng theo, tâm tới chân tới, thân tới bộ tới, bộ tới quyền tới, quyền tới thì ý sẽ tới.

Khi luyện tập lấy tĩnh chế động, khi tĩnh thì im như núi đứng, khi động thì nhanh như gió xoay, đó là đặc điểm chủ yếu của nội gia công phu Vịnh Xuân Quyền.

PHÁP CÔNG THỦ CHỦ YẾU CỦA VỊNH XUÂN   

Vịnh Xuân lấy trung tuyến làm lý chính, đó chính là nhãn hiệu cùi trỏ treo, khi xuất thủ phải chiếm đường vuông góc của ngực. Đó là pháp công thủ chủ yếu của Vịnh Xuân. Người luyện tập nhất định phải thủ trung tâm, chính ở trung tâm này mà làm cho các động tác của đối phương chỉ có thể ở ngoại vi. Khi sử dụng tay yêu cầu khoảng cách phải theo các tiêu chuẩn sau:

  • Thượng bất quá mắt
  • Hạ bất quá bụng dưới
  •  Trái phải không quá vai

Tất cả các nguyên tắc trên làm tay xuất quyền nhanh và thu về càng nhanh. Nó có tác dụng công thủ quyết liệt, biến hoá đa dạng, đồng thời khi khuỷu tay làm trung trục thì cánh tay và bàn tay sẽ chuyển động ở bất cứ góc độ nào và sinh ra một uy lực vô cùng. Vị trí cánh tay phải giữ khoảng cách một quyền với thân thể (đó là cánh tay treo), đây chính là mục đích tăng cường sức, gân của cánh tay, tăng cường sức tấn công lót thân.

PHÉP CHI SAO TRONG VỊNH XUÂN QUYỀN

Sự cốt tử chính trong quyền thuật Vịnh Xuân là pháp chi sao (niêm thủ). Đó là đặc điểm lợi dụng nghe lực của tay mình mà biết ý người, người động, người tĩnh, biết người trốn tay, người có tay người không tay, biết tiến thoái, đó là phương pháp huấn luyện tâm lý và cảm giảm của da cánh tay và cũng như toàn bộ tay: cánh tay, cẳng tay, cổ tay và bàn tay. Với công phu luyện, người tập sẽ có cảm giác nghe được sức (lực) xuất ra của người đối luyện (cảm nhận lực), vì niêm tay không phải là một cách đọ sức quyết liệt mà chính là một cách bồi dưỡng cảm giác nhạy cảm của cánh tay, đồng thời cân đối với cảm nhận phương hướng. Tập lâu phương pháp này không chỉ có thể thấy rõ và nghe được động cơ và ý đồ của người cùng tập, quan trọng hơn nữa là thông qua niêm tay giúp cho việc bồi dưỡng gân lực không ngừng phát triển, vì khi niêm tay sự cọ sát qua da thịt sẽ được thẩm thấu và tâm và đại não. Nạo bộ kịp thời phát ra hiệu lệnh đến tay, để từ đó nghe ra chỗ cứng, đờ của người cùng tập, đồng thời từ não bộ sẽ tự vận dụng phương pháp không giống nhau để ứng phó. Sự niêm thủ có thể nói là một cách đọ tâm sức quyết liệt cao sâu nhất. Khi tập pháp này, người luyện phải luôn nhớ rõ:

  • Bụng luôn lỏng
  • Khí phải luôn ở đan điền (thở sâu, nhẹ)
  • Bình chân, háng, gối thoải mái, bàn chân vững như núi Thái sơn.

Sau khi thân thủ buông lỏng thoải mái, hai người cùng tung tay ra luyện tập niêm thủ. Khi đẩy tay phải chuẩn, không sợ hụt, phản. Khi kéo và nâng tỳ phải nhanh. Luyện một thời gian sẽ thấy sự tuyệt diệu ở trong đó. Nguyên tắc tập là đánh vào trọng tâm người đối luyện, làm cho người đối tập mất thăng bằng. Mọi người luyện tập đều phải lấy cơ bản gốc của Bát thủ pháp làm nền tảng chính, khi quay tay cần phải áp dụng Liên hoàn bát pháp Vịnh Xuân. Khi sử dụng niêm thủ cần chú ý:    

  • Lấy phóng, chèn, đập (xà, hổ, hạc) làm chiêu thức
  • Lấy đoản kiều làm chủ
  • Lấy pháp công làm thủ, lấy chủ là hoà
  • Không được thừa và thiếu

Thủ pháp biến hoá đa dạng có thể phát huy tác dụng trong một khoảng cách đa dạng, đấy chính là uy lực và huyền bí của Vịnh Xuân Quyền.

Còn một điều cao sâu hơn cả là phương pháp luyện lực của Vịnh Xuân. Căn cứ vào nguyên lý:

  • Không dụng trường kiều không thể đạt khí, không dụng đoạn kiều không thể tự lo (tay ném dài để đạt gân và khí, tay ngắn có thể tự bảo vệ)
  • Theo phương pháp lực phải lưu thuỷ, không đứt đoạn, uy lực phải mạnh mẽ.

Người luyện lực phải hiểu rõ sức mạnh nhu quyền của Vịnh Xuân chính là giật đột ngột một giải lụa (lực ly tâm) mà sức giật nhờ người đối luyện, chỉ có sự luyện tập lâu dài mới có thể thấu hiểu điều này.

CƯỚC PHÁP

Trong quyền thuật Vịnh Xuân còn phải nói đến cước pháp, với năm ngọn: Thốn, quái, liêu, sát, thái (đạp, quét, gối, phóng chân, tỳ chèn). Tuy nhiên, sự luyện tập phải có sự phối hợp nhuần nhuyễn của thân thể với sự vô thức của tay (thân, chân, tay hợp nhất).

Tất cả phương pháp nói trên chỉ được luyện tập sau khi đã qua luyện tập cơ bản.

TẤN PHÁP (MÃ BỘ)

Cơ bản gốc gồm có tấn pháp (mã bộ) và bài Tiểu niệm đầu (thủ đầu quyền).

  • Nhị tự kiềm dương tấn
  •  Kiềm dương xoay
  •  Kiềm dương di chân trụ

Mục đích chính của luyện mã bộ là làm cho thân thể dẻo dai, bàn chân bám chặt đất, các khớp háng, gối, mắt cá chân phải lỏng. Khi di chuyển phải nhẹ nhàng linh hoạt, dùng ngón chân chuyển bộ làm chính. Khi định mã bộ, hai người phải du đẩy cho nhau để đạt sự cân bằng khéo léo.

TIỂU NIỆM ĐẦU   

Khi luyện xong mã bộ phải chuyển sang luyện Tiểu Niệm đầu (còn gọi là Tiểu luyện đầu, khi đạt đến cao cấp mới gọi là Tiểu niệm đầu). Tiểu niệm đầu chính là cơ bản công của Vịnh Xuân Quyền.

Tiểu niệm đầu và Tiểu luyện đầu chiêu thức là của nhau nhưng hàm ý hoàn toàn khác nhau – Một tập hình, một tập ý. Nếu Tiểu luyện đầu là cơ bản công pháp của Vịnh Xuân thì Tiểu niệm đầu là tu luyện âm nhu thông qua vận khí và dụng ý để đạt đến trình độ cao nhất không lộ. Trong quá trình tập luyện Tiểu niệm đầu không được phép tập nhanh và liều lĩnh, phải luyện chậm chạp và thuần thục, sau khi nhớ không sai mới thêm ý niệm vào phối hợp hô hấp. Nội phải đề khí, ngoại phải tuỳ ý, luyện được tuỳ ý, tẩu ý bất tẩu thần thì mới làm nền tảng cho phép Tầm kiều (tìm tay) về sau. Khi tập, lấy tinh thần chậm làm chính, đưa tay ra dụng hô, thu tay vào dụng hấp. Luyện được có thể vận dụng thân thể và ý niệm sức lực chớp nhoáng, đó chính là nội lực âm nhu và cách biến ảo để lấy nhu chế cương của quyền thuật Vịnh Xuân. Khi mã bộ và pháp luyện Tiểu niệm đầu đã tốt đó chính là lúc Tứ lạng bát thiên cân để hoá giải công kích đối thủ. Chú ý, khi luyện quyền phải buông lỏng toàn thân, ý niệm tập trung khi xuất thủ, lực nhẹ, ý nặng, cố gắng phát huy xảo lực (mượn sức người cùng luyện) đồng thời phải xoá ý niệm mờ ám. Lưỡi đầy vòm họng, đề giang thu thận, hơi thở tự nhiên. Điều này mang tính thực dụng rất mạnh, có quan hệ đến thành bại Vịnh Xuân Quyền trong khi giao chiến. Vì vậy, yêu cầu đặt ra cho mỗi người tập Vịnh Xuân Quyền là đều phải ghi nhớ một cách nghiêm túc các yếu lĩnh, động tác, và phải tiến hành khổ luyện thì mới có thể bước xa hơn trên con đường võ học.

 KHÁI NIỆM CÔNG – HOÀ – HOÁ
THAY CHO LỜI KẾT

Sau một thời gian luyện tập (18 năm), tôi mới hiểu được câu: Công – Hoà – Hoá làm chủ, còn lối cũ Hoà – Hoá – Công, theo tôi là đúng mà cũng không hẳn là đúng, vì văn tự của người Trung Quốc được đọc và hiểu từ phải sang trái. Nguyên lý Công – Hoà – Hoá, với thiển cận của tôi có thể diễn giải như sau:

  • Công tức thủ
  •  Hoá tức công
  •  Hoà là niêm dính

Theo chân lý “Đạo bất sinh bất diệt”, người viết một lần nữa rất mong mọi người luyện tập môn Vịnh Xuân Quyền đều đạt được như ý để Vịnh Xuân Quyền Việt Nam mãi mãi tồn tại và phát triển.

Chúc viên mãn!

Đông Các, Hà Nội, 30/3/2001
Trần Đắc Lợi   

 Cố võ sư Trần Văn Phùng (1902 -1987)

Cố võ sư Trần Văn Phùng (1902 -1987)

Cố Võ sư Trần Văn Phùng là một trong những học trò đầu tiên của sư tổ Nguyễn Tế Công (Hay còn gọi là Tài Cống). Ông là người lớn tuổi nhất trong số học trò của cụ Tế Công hồi bấy giờ, nên thường được các huynh đệ gọi là đại ca. Trước khi thụ giáo cụ Tế Công, ông đã là một cao thủ có tiếng thời bấy giờ với biệt danh Độc Nhãn Long. Ông học võ rất sớm (từ 16 tuổi), là người thông thạo nhiều môn quyền thuật, đặc biệt là Thiếu Lâm Sơn Đông và Thiếu Lâm Nam Quyền. Ông chơi thân với ông Việt Hương (chủ của hàng bánh Việt Hương ở phố Hàng Ngang thời đó), cũng là một trong những học trò xuất sắc của cụ Tế Công, rất giỏi về kiếm thuật. Ông Việt Hương đã giới thiệu ông Phùng với cụ Tế Công. Với một tinh thần võ đạo khảng khái, ông Phùng đã xin được thử tài nghệ của cụ Tế Công và ông đã thua. Cảm phục tài năng võ thuật của cụ Tế Công, ông đã xin làm đệ tử để được học môn Vĩnh Xuân của cụ Tế Công. Ông học võ Vĩnh Xuân của cụ Tế Công 10 năm liền từ năm 1936-1946, sau đó vẫn tiếp tục qua lại chăm sóc và học hỏi cụ Cống đến khi cụ đi miền nam năm 1954. Với năng khiếu võ thuật thiên bẩm và chuyên cần luyện tập, ông được sư phụ rất yêu mến mà truyền cho nhiều bí quyết của môn võ Vĩnh Xuân, đặc biệt là phương pháp luyện tập với mộc nhân.

Võ sư Trần Văn Phùng là một con người giản dị, cương trực và khảng khái, một đời cống hiến cho võ thuật. Cho đến tận lúc ông mất năm ông 85 tuổi, hàng ngày ông vẫn luyện công và dạy võ cho các học trò. Ở độ tuổi 80, ông vẫn đủ sức đánh lõm một tấm gỗ lim dày 10 phân. Quan điểm võ thuật của ông là càng đơn giản càng tốt và phải khổ luyện.

Ông nguyên quán ở Lý Nhân, Hà Nam, sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Ông là con một ông chủ cửa hàng tạp hóa tại số 16, phố Cửa Bắc. Thời thanh niên ông theo cách mạng (chiếm Bắc Bộ Phủ, bắt Cung Đình Vận – một tên phản động). Ồng là một kỹ sư điện có tiếng tại nhà máy điện Yên Phụ, lương rất cao 120 đồng bạc một tháng (thời đó một xu đã được một bơ gạo). Sau này về hưu, ông làm bảo vệ tại trường Việt Nam Cu Ba, ở phố Châu Long. Ông là một trong những người có công lớn trong việc truyền bá môn võ Vĩnh Xuân ở Việt Nam. Học trò của ông có rất nhiều, trong nước có, ngoài nước có, nhưng thành danh nhất phải kể đến giáo sư tiến sĩ Lê Kim Thành (hiện ở Nga), họa sĩ Đỗ Tuấn (Phó chủ tịch CLB Vĩnh Xuân Hà Nội), võ sư Trịnh Quốc Định (cố vấn võ thuật Liên đoàn Võ thuật Việt Nam), võ sư Vũ Văn Hồng (Phó giám đốc Trung tâm UNESCO về phát triển Văn hóa & Thể thao), họa sĩ Mai Anh Châu và nhiều người khác. Các học trò của ông đã và đang tiếp tục kế tục ông truyền dạy và làm rạng danh thêm cho môn Vĩnh Xuân Việt Nam.

Cụ Tế Công và các học trò (Võ sư Trần Văn Phùng là người đứng đầu tiên bên trái)

Cụ Tế Công và các học trò (Võ sư Trần Văn Phùng là người đứng đầu tiên bên trái)

Võ sư Trần Văn Phùng và các học trò

Võ sư Trần Văn Phùng và các học trò Võ sư Trần Văn Phùng và các học trò

Nguồn: Vĩnh Xuân Ngọc Hà   

Vào một ngày đầu xuân năm 2002 khi đang lang thang trên mạng, tôi tình cờ bắt gặp một bài viết khá hay về môn Vĩnh/vịnh xuân của một tác giả vô danh đăng trên Vn express, với tựa đề “Vịnh xuân hiệu năng của sự không sợ hãi”. Xin được chia sẻ dưới đây để các bạn cùng tham khảo.

Vịnh xuân là môn võ dùng sự khéo léo để khống chế sức mạnh. Người tập dùng sự linh cảm nhanh nhạy của thân mình để bám dính theo từng đòn thế của đối phương rồi tìm ra sơ hở và tấn công. Đó không phải là cố theo đuổi mục tiêu khó với mà là cảm nhận linh hoạt ý đồ của đối thủ thông qua giao tiếp với thân hình của anh ta và từ đó tìm ra những sơ hở để tấn công.

Hình thức của Vịnh Xuân nhấn mạnh vào khái niệm không thách thức. Những người cố gắng theo đuổi vẻ đe dọa bên ngoài của động tác sẽ không bao giờ phát triển được trong môn võ này. Các sư phụ Vịnh Xuân thường khuyên học trò hãy mang cái tâm sơ khởi đầy nghi kỵ bất trắc của mình ra đối mặt với đòn thế mỗi ngày. Hãy để nỗi sợ hãi tự bộc lộ và tìm hiểu nó thật kỹ. Hãy theo dõi nó tồn tại và phát triển mỗi ngày, và sau cùng hãy diệt nó đi như khi ta trừ một cây độc phải nhổ tận gốc hoặc khi giết một con rắn độc phải đánh cho giập đầu.

Xuất phát từ nhiều quan niệm khác nhau, các môn võ đều hướng tới cái đích “Cương nhu tương tế”: có nghĩa là phải kết hợp cả cương và nhu. Với Vịnh Xuân, điểm đầu tiên mà những người tập phải quán triệt là sự “xá kỷ tòng nhân” trong động tác. Khi đối luyện, người tập nương theo đòn đánh của đối thủ để khống chế đối thủ. Muốn làm được như vậy, võ sinh sẽ phải thả lỏng tinh thần và đặc biệt không được tự tạo cho mình vẻ mềm mại. Sự hơn hẳn của kỹ thuật sẽ chỉ được thể hiện qua hiệu quả thực sự của đòn đánh chứ không phải là vẻ có hiệu quả.

Người tập Vịnh Xuân sẽ tấn công khi tìm thấy khe hở trong phòng thủ của đối phương. Có thể so sánh việc đó như là dòng nước tìm thấy khe hở trên một con đê. Nó sẽ không suy tính lợi hay hại mà tự động lao vào đó rồi len lỏi khoét rộng chỗ sơ hở và phá tung mọi thứ từ bên trong. Chuyển lực của môn không phải là từng động tác cứng nhắc như trong môn cử tạ. Những chuyển động ấy vô cùng mềm mại và liên tục để tạo ra ra sự ứng biến nhanh nhạy. Người tập phải nhập làm một với ý thức, và động tác của đối thủ nhưng không để quyền cước của anh ta khống chế. Những đòn đánh sẽ không được lên chương trình và người tập phải tùy nghi tuân theo sự diễn tiến của cuộc đấu. Điều này đòi hỏi khả năng suy nghĩ mẫn tiệp nhanh nhẹn trong khoảnh khắc để xác định việc mình định làm đồng thời với khả năng buông bỏ mỗi khi hành động của mình không có tác dụng hay đã bị đối thủ hóa giải.

Một đòn đánh ít khi có mục tiêu đánh lừa đối thủ, đôi khi các sư phụ Vịnh Xuân dạy: “Hãy nhằm vào chỗ được thủ kín nhất mà đánh”. Không giống những môn võ khác cố tình tạo ra khe hở để bẫy địch thủ, bí quyết của người tập Vịnh Xuân chính là ở chỗ anh ta không chống lại mà “theo đòn” của đối phương.

Trong thực tế, một người muốn thắng đối thủ phải tự đặt mình vào vị trí bị nguy hiểm nhất trước mặt và ngang bằng với anh ta chứ không phải là cao hơn hay thấp hơn. Vì cao hơn có nghĩa là đã để tính tự kiêu chiến thắng, sẽ tự nhủ mình là hơn người khác dù cho mình có thua. Thấp hơn tức là tự nhủ mình sẽ thua, sẽ không đỡ được đòn đánh của đối phương. Quan niệm đó lặp lại nhiều lần sẽ làm cho người tập thua ngay từ trước khi khởi tay đấu luyện!

Với sự tôn trọng đối thủ và bản thân mình, người tập Vịnh Xuân dẹp bỏ tự ái sang một bên, không để bản thân bị ngoại cảnh tác động và làm quen với việc bị đánh, bị trở thành lố bịch trước mắt người khác trong lúc tập để tìm hiểu phản ứng của bản tâm mình.

Dần dần với việc một kỹ năng tự vệ được hình thành, nhân cách của võ sinh sẽ được phát triển một cách lành mạnh. Người tập Vịnh Xuân tự tin không phải vì sở hữu một khả năng đòn thế cao hơn người khác, mà vì hiểu rằng, bản thân tôn trọng người khác. Không phụ thuộc vào những hành vi đối xử với bản thân mình, anh không hề căm ghét hay sợ sệt một ai. Người không bị xúc phạm là người không thể bị đánh bại.

Vấn đề khi nào thì theo, khi nào thì chống của người tập Vịnh Xuân đặt ra lúc đầu sẽ dần được giải quyết. Khi đã thủ đắc những kỹ thuật nhất định, anh ta không còn bận tâm tới việc đó nữa mà chỉ còn tập trung thả lỏng để hòa nhập cùng cử động của đối phương. Điều đó cũng có nghĩa là phát triển được khả năng “Tâm ứng thủ” – khi đầu óc nghĩ đến một đòn đánh là chân tay thực hiện thành công. Các võ sư Vịnh Xuân rất chú trọng huấn luyện tâm thức của võ sinh. Được đúc kết từ thực tế, đòn thế của môn này tự đến khi người dùng nó bị đặt vào cuộc chiến.

Người ta thường gọi những võ sinh bằng từ “hành giả”, đó là người nhẫn nại bước đi trên con đường bất tận của sự học hỏi nhằm tới cái đích: thấu hiểu bản thân mình. 

P/S: Cuối cùng tôi cũng đã tìm được tác giả của bài viết này. Thật là may mắn, gần đây tác giả bài viết có tình cờ vào thăm trang web, nhờ đó tôi đã có dịp hân hạnh được trao đổi đôi lời với tác giả.  Được biết tác giả tên là Đỗ Xuân Tùng, tập của chi phái cụ Trần Văn Phùng. Xin cảm ơn tác giả một lần nữa vì bài viết đầy tính triết lý này.  Tôi xin được ghi tên tác giả phía bên dưới của bài viết và xin được giữ lại những dòng giới thiệu đầu tiên của bài viết, khi còn chưa biết tác giả là ai. Trân Trọng!

Tác giả: Đỗ Xuân Tùng
Nguồn: www.vnexpress.com

 
Đây là đoạn Video Clip võ sư Trịnh Quốc Định, dòng cố võ sư Trần Văn Phùng, đang tập với mộc nhân. Đoạn Video này được quay vào năm 1996.

Luyện tập với mộc nhân là một trong những phương pháp luyện tập hết sức độc đáo của môn Vĩnh Xuân. Người tập phải hoà với mộc nhân làm một.

Khi ta vui mộc nhân cũng vui, khi ta buồn mộc nhân cũng buồn. Khi ta nhanh mộc nhân nhanh, khi ta chậm mộc nhân cũng chậm theo ta. Khi ta đứng, mộc nhân cũng đứng nhìn ta. Mộc nhân vừa là ta, vừa là bạn của ta, vừa là thầy của ta.

Câu lạc bộ Vĩnh Xuân Hà Nôi, chùa Tảo Sách, xuân 2008
Câu lạc bộ Vĩnh Xuân Hà Nôi, chùa Tảo Sách, xuân 2008

Xin giới thiệu tới bạn đọc một bài viết giới thiệu về môn phái Vĩnh Xuân Việt Nam, của PGS.TS. Nguyễn Mạnh Nhân, một trong những cao đồ của chi phái cố võ sư Trần Thúc Tiển. Hiện ông là chủ nhiệm câu lạc bộ Vĩnh Xuân Hà Nội.

 I.       Sơ Lược Về Sự Hình Thành Và Phát Triển Vịnh Xuân Quyền Ở Việt Nam

Dân tộc Việt Nam vốn rất quý trọng võ thuật (hiếu võ). Phải chăng, đó là vì chúng ta sống trên một đất nước nhỏ, thường xuyên bị nạn ngoại xâm đe doạ. Lịch sử 4000 năm của chúng ta chủ yếu là những trang sử oanh liệt giữ nước, chống xâm lược – như nhà thơ Tố Hữu đã viết:

“ Có lẽ ngàn năm đã dạn dày
Anh hùng xưa để giống hôm nay.”

Trong cộng đồng Việt Nam, nói đến Võ Thuật, ngoài võ cổ truyền dân tộc (võ ta), người ta còn nhắc đến Thiếu Lâm, Võ Đang, Côn Lôn, Bạch Hạc, Sơn Đông, Không động…(võ Tàu), Nhu đạo, Ju-jitsu, Hiệp khí đạo (Aikido), Karatê (võ Nhật) và các môn võ khác như Thái cực đạo (Tai quan đô), Pen cat Silat, Quyền Thái, Quyền Anh (boxe)…, nhưng rất ít người biết đến VỊNH XUÂN QUYỀN.

Cho đến vài ba thập niên trước đây, VỊNH XUÂN QUYỀN ( VXQ) là một môn võ còn ít được biết đến, ngay cả ở Trung Quốc cũng như ở Âu Mĩ. Có những nhà quyền thuật “cao thủ”, những người nghiên cứu võ học nhiều khi còn hiểu rất ”mơ hồ” về môn võ này. (Năm 1985, bản thân tôi được gặp Võ sư Hoàng Nam ở Paris (Pháp) – ông là một Võ sư, một nhà nghiên cứu sâu về võ học Á đông – năm ấy con ông vừa được giải thưởng trong một cuộc thi đấu Kong Fu của thanh niên – võ sư Hoàng Nam khi ấy vừa viết một cuốn sách bằng tiếng Pháp giới thiệu Võ cổ truyền Trung Quốc, nêu khá kỹ về các môn phái- nhưng với VXQ ông chỉ viết được có mấy dòng, và thực ra không chính xác lắm. Tôi hỏi thì ông cho biết thực tế bản thân chưa gặp được người nào tập luyện VXQ, và những điều viết trong sách là “nghe nói” thôi).

Quả thật, người Việt Nam đã có “cơ duyên” được truyền dạy VXQ từ khá sớm – trước Hồng Kông 3, 4 thập kỉ. Sư tổ của Vịnh Xuân Quyền Việt Nam (VXQVN) là Nguyễn Tế Công (Nguyễn Thái Vân, Tài Cống) lánh nạn (có nguồn tin là tham gia kháng chiến) sang VN năm 1907 – Lúc đầu ở Hải Phòng, sau mới chuyển về Hàng Buồm (mở hiệu Nắn Bó Xương), cuối cùng chuyển về phố Hàng Giầy, chỉ dạy võ thôi. Cụ sinh năm 1877 ở Tân Hội, Quảng Đông, Trung Quốc, thân phụ là Nguyễn Long Minh, một thương gia giàu có mở xưởng pháo hoa ở Phật Sơn. Cụ là con thứ tư, cùng người em thứ năm là Nguyễn Kỳ Sơn được gia đình bỏ ra một món tiền lớn để xin học võ của Hoắc Bảo Toàn (Phổ Bá Quyền) vì tiền học võ thời đó rất đắt(!!). Hoắc Bảo Toàn là một bộ đầu ở Phật Sơn, nổi tiếng về VXQ, nhất là đao pháp. Ông là học trò của Hoàng Hoa Bảo (Cháu Ngũ Mai) và Đại Hoa Diện Cẩm. Sau khi học Hoắc Bảo Toàn, hai anh em lại tiếp tục xin theo học Phùng Tiểu Thanh, học trò Đại Hoa Diện Cẩm, là quan án sát Quảng Châu – cũng rất nổi tiếng về VXQ, đặc biệt là côn thuật (Hình như đã có tỷ đấu với Lương Tán?) – Lúc ấy Phùng Tiểu Thanh đã có tuổi (70 tuổi). Trước thịnh tình của gia đình họ Nguyễn, Phùng Tiểu Thanh đồng ý đến ở trong nhà họ Nguyễn và đồng ý dạy cho một nhóm 8 người: 2 anh em cụ Tế Công và 6 người khác. Cụ mất năm 74 tuổi và được gia đình họ Nguyễn an táng chu đáo. Gia đình cụ Tế Công ở rất gần gia đình Diệp Vấn (cũng rất giàu có). Trong thời cách mạng văn hoá, gia đình cụ Diệp Vấn gặp một số khó khăn về kinh tế cũng đã được gia đình họ Nguyễn giúp đỡ.

Khi mới sang Việt Nam, cụ Nguyễn Tế Công (NTC) làm quản gia – bảo tiêu cho một nhà tư sản (có mỏ ở Bắc Việt) người Hoa – và dạy võ cho Cam Túc Cường – con trai gia chủ. Cam Túc Cường là nhạc sĩ sáng tác – mỗi ngày lễ thường biểu diễn múa lụa – với 5m lụa mềm, nhưng lụa không bao giờ chấm đất.

Lúc đầu cụ có một người con gái, võ thuật cao cường nhưng sau mất sớm (hình như do ung thư vú). Sau này cụ tục huyền và có 2 con: 1 trai (A. Dếnh), 1 gái (A. Dung) cùng theo cụ vào Nam Bộ năm 1954. Lúc này 2 người còn rất nhỏ. Cụ sống ở Chợ Lớn (Thành phố Hồ Chí Minh), dạy võ và mất năm 1959, thọ 82 tuổi. Hai anh chị con cụ NTC hình như không học được nhiều VXQ.

Tháng 3 năm 2004, chúng tôi có dịp hành hương tới Phật Sơn – được đến chiêm bái bàn thờ Hoắc Nguyên Giáp ( một trong 10 kỳ nhân võ học đương đại Trung Quốc – người sáng lập ra Tinh Võ Môn) tại võ đường Phật Sơn – một nơi rất nổi tiếng, rất đẹp, hoành tráng. Rất may mắn, tôi được Ban Chấp Hành Hội võ thuật Phật Sơn gồm chủ tịch danh dự và nhiều vị lãnh đạo, võ sư, võ sinh tiếp thân mật – cũng qua đây, tôi được thắp hương tại võ đường Diêu Kỳ – do cố võ sư Diêu Tài sáng lập – và Diêu Tài chính là học trò cụ Tế Công (trước khi sang Việt Nam).

Trong báo “ngày nay” số 13, năm 2003, trong bài “ Vịnh Xuân Quyền khảo lược” tác giả Hoa Nhi T.S đã có một bài viết khá sâu về VXQ, nhưng rất tiếc là tác giả đã nêu tên sư tổ Nguyễn Tế Công lại là Nguyên Tế Công. Thực ra cụ họ Nguyễn (như đã nêu trên). Đợt thăm Trung Quốc (3/2004) chúng tôi cũng có đến Quảng Châu được phu nhân và con trai cố võ sư Sâm Năng (hiện là chủ tịch Hội VXQ Quảng Châu) tiếp, ở buổi họp mặt này tôi hân hạnh được gặp võ sư Nguyễn Tổ Đường là cháu nội Nguyễn Kỳ Sơn – gọi Nguyễn Tế Công bằng ông bác ruột – ông hiện là thư ký Hội VXQ Quảng Châu và cũng là họ Nguyễn.

Từ khi sang Việt Nam, cho đến năm 1954, cụ NTC có dạy khá nhiều học trò ở Hà Nội. Tuy nhiên những cao đồ được biết đến thì không nhiều. Thường giới võ học hay nhắc đến các võ sư sau đây: Việt Hương, Trần Văn Phùng, Trần Thúc Tiển, Vũ Quý và Ngô Sĩ Quý. Sau khi cụ NTC chuyển vào Nam, 3 võ sư Trần Văn Phùng, Trần Thúc Tiển và Vũ Quý bắt đầu thu nhận học trò. Cụ Ngô Sĩ Quý lúc đầu có đến học cụ Trần Thúc Tiển một thời gian, rồi sau cũng mở lớp truyền dạy VXQ. Hình như cụ Việt Hương không mở lớp dạy VXQ.

Giờ đây các cụ đều đã khuất và để lại nhiều học trò giỏi.

Võ sư Trần Văn Phùng (1900-1988) quê ở Hải Dương, tính tình cương trực, khảng khái. Cụ học võ từ rất sớm (từ 16 tuổi) nhiều môn võ, nhưng sau theo học VXQ của NTC, từng một thời theo sư phụ làm bảo tiêu và được cụ NTC rất yêu mến mà truyền cho nhiều bí thuật. Cụ tham gia cách mạng (chiếm Bắc Bộ Phủ, bắt Cung Đình Vận – một tên phản động). Cụ mất năm 1988, để lại nhiều học trò giỏi: Hoạ sĩ Đỗ Tuấn, giáo sư tiến sĩ Lê Kim Thành (Hiện ở Nga), võ sư Trịnh Quốc Định (nhờ tập VXQ đã khỏi bệnh lao phổi nặng), hoạ sĩ Mai Ánh Châu, võ sư Thái Bá Sao (võ đường ở Thanh Xuân), võ sư Vũ Văn Hồng (Lạc Trung) và nhiều người khác.

Võ sư Ngô Sĩ Quý, xuất thân từ một gia đình khoa bảng – là một giáo viên thẩm mĩ, một nhạc sĩ Violon…ông là con người hào hoa, phong nhã, sống cởi mở, kiến thức võ học rất cao siêu. Sau khi tham gia kháng chiến, ông về làm ở Bộ Giáo dục. Ông mất năm 1998, thọ 77 tuổi (1921-1998). Ông dạy được nhiều học trò giỏi: tiến sĩ , bác sĩ Hoàng Quốc Toàn (phó Chủ nhiệm Khoa mổ tim mạch Quân y viện 108), bác sĩ CK1 Dương Quốc Tuấn (Viện Dinh dưỡng Việt Nam), bác sĩ Nguyễn Đăng Dũng (Viện mắt Trung Ương), võ sư Nguyễn Đức Dũng, võ sư Nguyễn Việt Trung, võ sư Trần Hậu Tuấn (thành phố Hồ Chí Minh) và rất nhiều người khác.

Võ sư Vũ Quý (Vũ Bá Quý) vốn gốc ở Hải Dương – nhà có ôtô cho thuê nên còn có tên là “Quý ôtô”. Cụ hay để tóc ngắn (húi đầu bốc) rất nhanh nhẹn, cụ tính vui vẻ, khoát hoạt và đòn ra rất mạnh mẽ và thần tốc…võ sư Vũ Quý từng đoạt giải vô địch võ tự do Đông Dương (1939) và nhiều giải khác; lúc có tuổi cụ về quê ở Hải Dương và dạy Vũ Gia Thân Pháp; cụ có nhiều học trò giỏi thành danh – dạy võ không chỉ trong nước mà còn mở võ đường ở Châu Âu – và đã mời cụ qua thăm. Cụ mất năm 1994, thọ 84 tuổi.

Võ sư Trần Thúc Tiển người Thanh Trì (Nam Dư hạ) Hà Nội. Cụ sinh năm 1912 ở Quảng Châu Văn Trạm Giang, Trung Quốc (cụ thân sinh làm việc ở đó). Cụ theo Tây học (đỗ Diplom) và là một doanh nhân. Cụ có nghề nấu rượu tây, mở nhà in Chấn Hưng ở 35 Hoà Mã (sau bị Pháp đốt vì in tài liệu cho Việt Minh). Cụ đặc biệt người bé nhỏ, gầy yếu, bị lao phổi nặng – nhờ tập VX nên khỏi hẳn. Cụ rất hiền lành, tính tình điềm đạm khiêm tốn… cụ mất năm 1980, thọ 69 tuổi. Cụ tiếp tục dạy một số bạn đồng môn khi cụ Tế Công đã đi Nam: bác sĩ Phạm Khắc Quảng, bác sĩ Lê Văn Trung, ông Nguyễn Văn Phương…và nhiều học trò mới trong đó có tôi, bác sĩ Nguyễn Văn Lễ (nguyên phó giám đốc bệnh viện Đa khoa Thái Nguyên), võ sư cao cấp Phan Dương Bình (Bình Bún), võ sư Nguyễn Xuân Thi (nguyên chủ tịch Hội võ cổ truyền Hà Nội), kỹ sư Nguyễn Ngọc Nội, luật sư Nguyễn Thành Vinh, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, ông Vũ Văn Luân (Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam trong nhiều năm là chủ tịch liên đoàn võ cổ truyền VN) ..v..v..Võ sư Trần Thúc Tiển sinh hạ được nhiều con nhưng chỉ có hai anh Trần Thiết Côn (Sinh) và Trần Hoài Ngọc là học được đến trình độ cao – đặc biệt anh Trần Thiết Côn lĩnh hội được nhiều tinh tuý của VXQ, bản lĩnh cao cường, nội công thâm hậu….

Tại thành phố Hồ Chí Minh, sư tổ NTC chỉ sống có mấy năm (1954-1959) nhưng cũng đã truyền dạy được cho khá nhiều học trò thành danh như Lục Viễn Khai, giáo sư kiến trúc Đỗ Bá Vinh, Bộ trưởng Bộ Y tế (miền Nam), bác sĩ Nguyễn Bá Khả, võ sư Nguyễn Duy Hải ( Hải Tàu – Hồ Hải Long) và nhiều người khác…

Hiện nay ở Việt Nam, đặc biệt là ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có khá nhiều người học tập VXQ.

Môn đồ thuộc thế hệ thứ 3 và thứ 4 nữa (tính từ sư tổ Tế Công) hiện đang tập luyện, huấn luyện VXQ tại nhà hay tại các võ đường.

Nhiều võ đường (VĐ) có khá nhiều võ sinh như VĐ Cột Cờ (Vs. Nguyễn Đức Dũng, Vs. Hoàng Quốc Toàn, Vs. Nguyễn Đăng Dũng, Vs. Nguyễn Văn Trung….); VĐ Hàng Trống ( Vs. Nguyễn Hữu Thế, Vs. Nguyễn Nam Vinh); VĐ Tăng Bạt Hổ ( Vs. Đặng Tuấn Hải), VĐ ở Thanh Xuân (Vs. Thái Bá Sao); VĐ Hàng Buồm (Vs. Phan Dương Bình, Vs. Nguyễn Đức Long…); VĐ của VS Nguyễn Ngọc Nội ;VĐ Lạc Trung (Vs. Vũ Văn Hồng); VĐ Ngọc Hà (Vs. Trịnh Quốc Định); VĐ phố Phó Đức Chính ( Vs. Nguyễn Tiến Mỹ); VĐ Ngõ 103 Bạch Mai (Vs. Trần Văn Nguyên); VĐ ở Bạch Đằng ( Vs. Đỗ Tuấn); VĐ ở thành phố Hải Dương (Vs. Đoàn Chí Thanh); VĐ ở Hà Tây ( Vs. Thích Đạo Liên); VĐ Trần Bình Trọng ( Vs. Đinh Trọng Thuỷ). ở thành phố Hồ Chí Minh có Võ đường Nam Chính Trực , VĐ của Vs. Trần Hậu Tuấn và…nhiều VĐ khác…

Nhiều võ sư cũng đã truyền dạy VXQ ở nước ngoài. Người đầu tiên chính là giáo sư tiến sĩ Hoàng Vĩnh Giang (Giám đốc Sở TDTT Hà Nội). Là một cao đồ của VXQ, ông đã truyền thụ cho các bạn Liên Xô cũ từ những năm 1979, 1980. Hiện nay, việc các võ sư Việt Nam qua các nước để dạy VXQ cũng như các đoàn ngoại quốc sang tập huấn VXQ ở nước ta hoặc các cá nhân người nước ngoài trong thời gian sống và công tác tại Việt Nam đã đến học VXQ với các vị thầy người Việt Nam…. đã trở thành chuyện bình thường.

Trong một số đặc biệt về VỊNH XUÂN QUYỀN báo Inside Kong Fu, tạp chí khá uy tín , đã nêu: ” Phải chăng VỊNH XUÂN QUYỀN Việt Nam là một mắt xích quý giá đã bị thất lạc và tại đây nó đã bắt đầu một cuộc hành trình mới ?”

Có lẽ đó là do một “cơ duyên” đặc biệt, chính sư tổ Nguyễn Tế Công đã phải thốt ra “ Vịnh Xuân sang Việt Nam mất rồi!”, trước khi rời Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh – đúng nửa thế kỷ trước đây – 1954.

 (Hết phần 1, còn tiếp)