Author Archive

Đây là buổi trò chuyện của phóng viên báo Lao Động cùng võ sư Nguyễn Châu Phong, chủ nhiệm võ đường Vĩnh Xuân Châu Phong, về môn Vĩnh Xuân Quyền. Dưới đây là nội dung buổi trò chuyện.
Vĩnh Xuân_ChauPhong(1)

Trước đây, Vĩnh Xuân quyền từ chỗ chỉ được truyền dạy âm thầm trong các gia tộc, nay trở thành một trong những môn võ được nhiều người say mê luyện tập nhất, với hàng triệu đệ tử trên toàn thế giới.
Vĩnh Xuân quyền thường gắn với huyền thoại Lý Tiểu Long (1940-1973) – diễn viên võ thuật nổi tiếng Hollywood thập niên 1970. Tuy nhiên, tìm được một chân sư không hề đơn giản. Võ sư Nguyễn Châu Phong (SN 1956) là một người như thế, ông là đệ tử lớn của cụ Trần Văn Phùng (một trong những học trò đầu tiên của sư tổ Nguyễn Tế Công – hay còn gọi là Tài Cống – người truyền bá Vĩnh Xuân vào Việt Nam).

Trên sân võ, thoạt nhìn, cái dáng mảnh mai, cao lòng khòng bề ngoài của võ sư Nguyễn Châu Phong đã đánh lừa các môn sinh. Khi giao thủ, phản xạ của ông cực nhanh và những cú đánh còn lẹ hơn điện xẹt. Trong chớp mắt, môn sinh đã nằm lăn trên mặt đất, còn người ngoài đứng xem tuyệt không nhìn rõ đòn ra của ông. Võ sư Nguyễn Châu Phong nhấn mạnh: Vĩnh Xuân quyền khoan thai mà dũng mãnh.

- Theo ông, đâu là đặc trưng và thế mạnh của Vĩnh Xuân quyền so với các môn phái khác?

- Vĩnh Xuân quyền xuất phát từ Trung Quốc, đặc trưng môn này có nhiều nét đặc dị bởi nó có những bài luyện tập hết sức đặc biệt như niêm thủ, niêm cước, niêm thân hay linh giác. Hệ thống quyền thuật đơn giản không giống một môn phái nào, nhìn bề ngoài các môn sinh tập Vĩnh Xuân quyền luyện tập những động tác hết sức đơn giản, khoan thai nhẹ nhàng, không khoa trương hay bay nhảy, đã có nhiều người không thích vì không hiểu chiều sâu và hiệu quả của nó, thậm chí còn suy nghĩ: Thế này mà là võ ư? Thực ra, có thể xem Vĩnh Xuân quyền là môn “nhu thuật”, một môn thể thao nghệ thuật có tư duy logic rất cao. Nó là môn võ dành cho những người yếu, người yếu mà tập nó sẽ khắc phục được tình trạng sức khỏe (có rất nhiều người mang những bệnh mạn tính trong người, khi tập Vĩnh Xuân đã hết bệnh), thấy khỏe hơn, sung mãn hơn. Còn người khỏe mà tập nó thì sức lực càng vô cùng và bản thân Vĩnh Xuân quyền còn là môn võ được đúc kết, cắt gọt đến mức tinh giản, nên tính hiệu quả chiến đấu cực cao…

- Hiện ở VN có mấy nhánh của Vĩnh Xuân quyền và nó có khác nhau nhiều không, thưa ông?

- Ở miền Bắc hiện nay có nhiều nhánh như nhánh cụ Trần Văn Phùng (sư phụ của tôi), nhánh cụ Trần Thúc Tiển, nhánh cụ Vũ Bá Quý, cụ Ngô Sỹ Quý… và nhiều nhánh ở trong TPHCM nữa…. Về cơ bản, gốc đều như nhau, nhưng trong khi học Vĩnh Xuân quyền, mỗi người đều hiểu, học nó theo cái ngộ của chính kiến bản thân mình. Sau này, khi phát triển và truyền dạy theo đó cũng khác nhau.

- Hẳn cũng như các môn phái khác, Vĩnh Xuân quyền đòi hỏi sự khổ luyện, nhưng sự khổ luyện ở đây có gì đặc biệt không, thưa ông?

- Việc khổ luyện chia theo từng giai đoạn. Sự khổ luyện nằm trong ý thức, với tôi 24h trong ngày là tập và luyện. Không nhất thiết phải tạo ra một cung thời gian, vì mỗi người có những điều kiện khác nhau. Bất kỳ môn võ nào cũng đều cần khổ luyện. Nếu có ý chí và quyết tâm cao thì có thể vượt qua tất cả và chắc chắn sẽ thành công.

Theo tôi, tư chất của mỗi người là quan trọng, nhưng quan trọng hơn là anh có thực sự đam mê và trân trọng cái anh đam mê không. Nếu không đi chuyên sâu thì không hiểu được. Phải gặp được danh sư (còn gọi là chân sư đích thực), phải được truyền dạy để hiểu thấu đáo. Phải toàn tâm toàn ý, nếu học chỉ để dùng ngay thì chỉ là học cái ngọn hay một vài kỹ thuật đánh đấm, làm sao hiểu được cái cốt lõi, tinh hoa của võ đạo? Như để hiểu được “tâm ứng thủ” phải là cả một quá trình rèn luyện, phải được thầy chỉ dạy đến nơi đến chốn, rồi “bắt địch theo ta”… phải đạt tới tinh hoa trong chiến đấu.

- Thưa ông, trong Vĩnh Xuân quyền có khái niệm “vô chiêu thắng hữu chiêu”?

- Phải hiểu thế nào là “tâm ứng thủ”, đứng trước đối thủ, làm sao biết đối thủ dùng chiêu thức như thế nào, dùng thế tay hay thế chân nào? Phải có một quá trình luyện tập công phu thì chỉ cần nghĩ tới động tác, chiêu thức thì ngay lập tức chân, tay sẽ thực hiện những đòn thế chính xác, thành công. Ngoài khổ luyện thì có 3 cấp, đúng hơn là 3 hệ: Hệ chiến đấu – hệ giao đấu – hệ biểu diễn. Cũng như đẳng cấp trong võ thuật có 3 cấp: Võ biền, võ thuật và võ đạo. Đạt tới võ đạo là đạt tới tinh hoa của triết lý sống…

- Các lò võ Vĩnh Xuân quyền ở ta hiện nay có nhiều lò tuân theo “cái gốc” căn bản của nó không, thưa ông?

- Cây có 1 gốc, nhưng có nhiều nhánh, 1 nhánh sinh ra nhiều cành. Ở ta, nhiều lò, ngay cả thầy dạy cũng chưa nắm được gốc cơ bản, toàn là cóp nhặt ba cái chiết chiêu. Đến “bát thủ pháp” – thầy dạy còn chưa biết. “Manh sư” thì nhiều, danh sư thì ít… cái đó thật đáng buồn! Như “Tiểu hình luyện thủ” là bài quyền của Vĩnh Xuân, các môn sinh mới nhập môn đều phải tập bài đó để luyện tay. Thủ ở đây là tay, không phải là phòng thủ, đánh thì đỡ, gạt, thủ sau thì công. “Đầu bất chính, thì chung sinh bất chính” – cái đầu tiên đã sai thì dù có khổ luyện, cả hệ thống về sau đều sai. Ngoài những chiêu thức, kỹ thuật mà sư phụ từng dạy tôi, người còn truyền lại rất kỹ cho tôi cả về khẩu quyết và tâm pháp…

Vĩnh Xuân quyền còn đi vào thơ ca: “Đôi tay Vĩnh Xuân như hai dải lụa hồng, đánh cho địch thủ như con thuyền say sóng/ Ta theo địch như hình với bóng/ Địch theo ta như vực sâu thăm thẳm”…

(Nói đến đây, võ sư Nguyễn Châu Phong dắt cậu con trai đang ở tuổi trưởng thành của ông ra tập cho chúng tôi xem. Lẹ làng, khoan thai mà dũng mãnh, những đòn đánh biến ảo khôn lường, chỉ có điều ông “tua” thật chậm để chúng tôi nhìn ra được đòn thế).
Vĩnh Xuân_ChauPhong(2)
Võ sư Nguyễn Châu Phong nói tiếp:

Vĩnh Xuân quyền nhu nhưng không nhược, cương mà không cứng. Cứng mà bẻ không gãy. Mềm mà không nắn được. Để đạt tới công phu đôi tay, học cả đời chưa hết, vì thế Vĩnh Xuân quyền ít dùng chân, vì tay mà đã lợi hại như thế thì dùng chân còn lợi hại đến đâu. Thực tế cước pháp Vịnh Xuân rất phong phú, bao gồm cả những chiêu thức dùng chân ở tầm cực thấp với những đòn chấn khớp có uy lực khủng khiếp và những chiêu thức đánh vào sự thăng bằng của đối thủ. Tuy nhiên, do nguyên tắc “túc bất ly địa” (chân không rời khỏi mặt đất) của Vĩnh Xuân, cước pháp Vĩnh Xuân chỉ truyền dạy cho học trò cao cấp, sau khi môn sinh đã luyện tập tốt sự thăng bằng và có sự phối hợp với thủ pháp nhuần nhuyễn. Chưa kể, vũ khí của Vĩnh Xuân quyền còn có “Bát trảm đao”, “Lục điểm bán côn”. Đã học phải học cho đủ, cho thấu đáo, sau này tùy vào hoàn cảnh nào, gặp cái gì thì dùng cái đó.

Câu chuyện với võ sư Nguyễn Châu Phong thật thú vị, ông nói với chúng tôi không chỉ là võ thuật mà còn là triết học, là sự cân bằng âm dương hiểu sao cho đúng, là sự vi diệu của võ đạo mà ông đã ngộ được. Cũng vì thế mà khi được hỏi về những lần ra đòn chiến đấu của ông, Võ sư Nguyễn Châu Phong chỉ cười, không nói…

Với Vĩnh Xuân quyền, phải nắm vững được những kỹ thuật như bát tượng: Nâng, tỳ, vít, đẩy, chấn, triệt, lôi, đả; hay Ngũ hình quyền biểu hiện 5 ngũ tính: Cương, nhu, dũng, trí, tĩnh. Ngũ tính của con người luân chuyển theo các ảnh hưởng tác động ngoại lai, có lúc rất cương trực, có lúc rất mềm mại… như 5 con vật long, hổ, báo, xà, hạc… Luyện võ là để lấy cái dũng, để chế ngự và tiêu diệt sự nhút nhát bản năng của con người, giữ được sự điềm đạm và sáng suốt khi gặp nguy hiểm, để có những giải pháp phù hợp trong tất cả mọi việc của cuộc sống thường ngày, chứ không phải là lấy việc đánh đấm hơn thua làm thước đo thành quả.

Nguồn: Báo Lao Động Online

http://laodong.com.vn/lao-dong-hang-ngay/dat-toi-vo-dao-la-dat-toi-tinh-hoa-cua-triet-ly-song-109611.bld

Đôi tay Vĩnh Xuân

Đôi tay Vĩnh Xuân

Chúng ta thử xem qua hệ thống quyền pháp của Vĩnh Xuân Quyền sẽ rõ. Đó là một công việc khổ luyện gần như cả đời người để thu thập và ứng dụng một cách thích hợp mỗi động tác và sự kết hợp kỳ diệu của mỗi đòn tay. Nó có điểm khác biệt cơ bản là không nhất thiết phải thuộc lòng các chiêu thức chiến đấu như một số môn phái khác. Đồng thời có sự phân giải về các chiêu thức một cách hòa hợp, ăn khớp như một số người quan niệm biểu đồng tình.

Có những người cho rằng quyền Vĩnh Xuân đơn giản và thực dụng nhất. Điều đó, ở một góc độ nào đó, có thể xem như đúng. Bởi vì suy cho cùng “bát môn pháp” cũng có thể bắt nguồn từ ba tay : Tán thủ, Phục thủ và Bàng thủ (Ngửa bàn tay, Úp bàn tay, và Đưa khuỷu tay). Ba tay quyền căn bản này bao quát cả trăm ngàn thế tinh hoa biến hóa của quyền Vĩnh Xuân.

Theo thường lệ, tất cả quyền thuật Trung Hoa đều dùng một phương pháp cổ truyền và duy nhất là đánh và đỡ. Khi đối phương dùng quyền đánh ta, thì ta dùng một cánh tay để đỡ và dùng một cánh tay khác để đánh lại đối phương, hoặc dùng chân để phản công đối phương.

Theo thứ tự, thì dù ta đỡ bằng tay hay chân, đều đứng sau cái thể công (đánh hoặc đá của địch). Vả lại, cái đánh trả với cái đỡ không thể nào làm cùng một lúc được : nghĩa là phải dùng cả hai tay, một tay đỡ và tay khác đánh lại.

Nhưng quyền Vĩnh Xuân thì khác hẳn. Nếu đối phương dùng quyền tay hay dùng đòn chân đánh hoặc đá ta, thì hễ ai đã tập quyền Vĩnh Xuân thì đều hiểu rằng : Hễ quyền hay cước của địch bị ta tiếp được (có nghĩa là thu hút được), thì tức khắc ta chỉ dùng một tay hay một chân đánh lại, vì quyền Vĩnh Xuân làm tiêu tan các thế công bằng một kỹ thuật đặc biệt, và đó cũng là đòn phản công tức khắc.Đó là chỗ tuyệt diệu của quyền pháp Vĩnh Xuân.

Cho nên, quyền pháp Vĩnh Xuân có câu “Đả thủ tức vi Tiêu thủ”, ý nói tay đánh tức là tay giải (Giải là làm tiêu tan cái thế công của địch).

Còn có một câu khẩu quyết là : “Thủ lưu trung”, nghĩa là hai tay lúc nào cũng để trước giữa ngực (Cả trên, dưới). Khi ta ra tay đánh địch đều do trung lộ tiến đi (tức là hai cánh tay một quyền, một chưởng). Bao giờ cũng làm thành một hình trung tâm điểm để phòng ngự đầu và toàn thân. Dù địch mau lẹ và cường mạnh đến đâu, ta đều có thể làm cho đôi tay của địch lúc nào cũng ở ngoài tay phòng ngự của ta. Như vậy ta chiếm thế thượng phong, có ngay ưu thế dù là công hay thủ. Cho nên quyền Vĩnh Xuân đánh ra thì thành xung quyền hình chữ nhật do tâm tạng (ở giữa ngực) xuất phát đường kinh tuyến, thẳng một mặt tiến đánh đối phương, tựa như chạy theo đường cung huyền (như dây cung bật ra).

Nếu địch dùng quyền đánh, ta dùng lối quyền “ném” hay lối quyền “câu”, còn gọi là quyền dây cung. Dù so sánh quyền pháp giữa các môn phái khác, xuất phát từ hai bên eo với xung quyền hình chữ nhật của Vĩnh Xuân thì quyền Vĩnh Xuân vẫn dài hơn. Đó là nguyên nhân tại sao quyền Vĩnh Xuân phát xuất từ trước ngực.

Người ta thường dùng cây cung và thân cây cung để ví với tay quyền Vĩnh Xuân, ta cũng có thể dùng cây mây để làm ví dụ. Khi một lực tấn công phía trước, ta có thể dùng tay ngửa, tay úp hay chìa khuỷu tay (tán, phục, bàng thủ) khiến cho địch thủ có cảm tưởng như đánh vào một cây mây bị áp lực ảnh hưởng, cong vào một bên; đến khi quyền địch thủ để lộ ra khuyết điểm (nơi trống, tiện tấn công)thì quyền Vĩnh Xuân như thanh mây bật ngược lại xung thẳng vào đối phương với sức mạnh vô cùng.

Do đó, trong môn phái Vĩnh Xuân có một câu truyền khẩu “Lai lưu khứ tống, thoát thủ trực xung” (Tới thì giữ, đi thì đưa, duỗi hoặc rời tay thì tiến tới).

“Đó là phương pháp sử dụng các thế Na, Phục, Bàng… Tuyệt không bao giờ hất ngang hay lắc qua hai bên trái hay mặt. Đưa là đưa sang phía trước, xung cũng là xung ra phía trước. Còn tay lưu chỉ để tiếp đón hay chận đứng quyền của địch. Không cần dùng đến sức khỏe mà có thể đẩy được địch qua một bên”.

Chính vì chỗ sâu diệu này mà Võ sĩ Lý Tiểu Long sau khi đã học với Diệp Vấn tiên sinh, đã lãnh hội tinh túy của công phu quyền pháp Vĩnh Xuân, nên đã cho ra đời môn Triệt Quyền Đạo (có thể tạm tóm tắt là con đường ngắn nhất để biến thủ thành công, hoặc công thủ không phân biệt, hoặc nôm na hơn: đỡ tức là đánh).

Ngoài quyền pháp sâu diệu, người học Vĩnh Xuân quyền còn phải luyện khí công để chủ động được kình lực của mình. Kình phải lấy gân làm gốc, có đàn tính, hoạt tính. Tập khí công nội công, chuyển động đường gân, uyển lực phát triển, lấy khí dẫn lực… chủ động gân cốt, phát triển được kình. Lực phá hủy bên ngoài, kình phá hủy bên trong. Việc phóng kình như bắn một mũi tên. Kình có thể tụ vào đầu ngón tay, phóng với tốc độ nhanh có thể phá hủy các bộ phận bên trong. Đó mới thực sự là sự công phá. Khi một người phóng kình đúng, các đầu ngón tay sẽ rung bật lên. Đó là dấu hiệu công lực của mỗi người. Môn công phu đỉnh cao của kình lực chính là nhất dương chỉ vậy.

Nguồn: VS. Thi Đạt Chí, Trích Tân Võ học – xuất bản tại Hồng Kông số 72/1972

Phương pháp luyện tập dưỡng sinh Vĩnh Xuân của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện


Trong các thước phim tư liệu dưới đây, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã lý giải hết sức khoa học và dễ hiểu về tư tưởng và phương pháp luyện tập của môn Vĩnh Xuân mà ông đúc rút được.


Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (1913-1997), một nhà tri thức lớn của Việt Nam. Ông đã được  Nhà nước Việt Nam trao tăng Huân Chương Độc lập Hạng ba, và được Viện Hàn lâm khoa học Pháp trao giải Grand prix de la Francophonie. Ngoài ra, ít người biết rằng, ông còn là môn đồ của môn Vĩnh Xuân. Ông là học trò của cố võ sư Trần Thúc Tiển, một cao đồ của Tôn sư Nguyễn Tế Công. Ông đã kết hợp phương pháp luyện tập của môn Vĩnh Xuân do sư phụ truyền dạy với kiến thức tây y sâu sắc của mình để đưa ra một phương pháp dưỡng sinh hết sức hiệu quả.  Phương pháp này đã giúp cho ông có thể sống vui sống khoẻ dù phải lên bàn mỗ 7 lần, cắt bỏ hơn một lá phổi với 8 chiếc xương sườn.

Khẩu quyết hít thở dưỡng sinh của ông:

Thót bụng thở ra

Phình bụng thở vào

Hai vai bất động

Chân tay thả lỏng

Mặt Phật ung dung

Tập trung theo dõi

Luồng ra luồng vào

Bình thường qua mũi

Khi gấp qua mồm

Êm, chậm, sâu, đều

Ðứng ngồi hay nằm

Ở đâu cũng được

Lúc nào cũng được.


 

Ông là võ sư cao cấp, một trong số ít các võ sư được giới võ thuật bầu chọn là danh nhân làng võ Việt Nam. Võ lâm giang hồ đồn rằng, ông luyện được tuyệt kỹ “Xúc cốt công” nên trong chốc lát có tự co rút xương, khiến cơ thể mềm oặt, có thể thu mình nằm gọn gàng trong… rổ bún. Bởi thế, suốt mấy chục năm trời, võ lâm đồng đạo gọi võ sư Phan Dương Bình, cao thủ môn phái Vịnh Xuân, bậc trưởng lão của Vovinam phía Bắc bằng cái tên thân mật Bình “bún”.

 

Cao nhân đến từ phương Bắc

Võ sư Phan Dương Bình sinh năm 1929, là người Việt gốc Hoa, (bởi thế mọi người còn gọi ông bằng cái tên Trung Quốc là Xếnh Xáng.

Ông trông không giống người học võ bởi vóc thái thư sinh. Nếu không có sự giới thiệu của các võ sư thì khi gặp, tôi cứ ngỡ ông là một ông giáo nghỉ hưu, đang thảnh thơi an hưởng tuổi già. Mê truyện kiếm hiệp từ nhỏ nên suốt thời niên thiếu, ông ước ao được hoá thân thành những nhân vật trượng nghĩa như trong truyện. May mắn lớn trong đời, ông đã được nhận làm đệ tử của một cao thủ đệ nhất: Thầy Tế Công của môn Vịnh Xuân quyền.

Có lẽ, trong số các võ sư người Trung Quốc lánh nạn dạt đến Việt Nam thì võ sư Tế Công là người nổi tiếng và có nhiều công lao nhất. Nhờ có ông mà các võ sinh người Việt biết đến một võ phái lừng danh, và cũng nhờ có ông mà Vịnh Xuân Việt Nam đã có những viên gạch vững chắc đầu tiên.

Cụ Tế Công tên đầy đủ là Nguyễn Tế Công, là sư huynh của danh sư Diệp Vấn, Chưởng môn phái Vịnh Xuân ở Hồng Koong (tôn sư của võ sĩ, hiện tượng điện ảnh Lý Tiểu Long. Như vậy Tế Công là sư bá của Lý Tiểu Long). Với vị sư tổ của môn phái Vịnh Xuân Việt Nam này, thì võ sư Phan Dương Bình có rất nhiều kỷ niệm dù người đã đi xa cả nửa thế kỷ rồi.

Năm 1907, võ sư Tế Công đến Việt Nam. Ban đầu, bởi muốn che giấu thân phận, vị võ sư tiếng nổi như cồn ở Trung Quốc ấy đã không truyền dạy võ nghệ cho ai. Thế nhưng, ngặt nỗi gia sản của bậc cao nhân ấy ngày một sa sút. Ngày ấy, ở Hàng Buồm, cửa hàng thuốc của gia đình cụ Trần Thúc Tiển đang thời bán buôn gặp nhiều phát đạt nên của ăn của để dôi dư.

Thấy cảnh ngộ cụ Tế Công bần hàn, cụ Tiển đem lòng thương xót. Cụ Tiển thường qua lại thăm hỏi và giúp đỡ luôn.

Cụ Tiển mắc chứng lao mãn tính, thuốc thang đã nhiều mà bệnh tình chẳng hề thuyên giảm. Chứng nan y ấy làm thân thể cụ héo mòn, đỉnh điểm trọng lượng cơ thể chỉ xấp xỉ 35 kg. Thấy người thật lòng hậu đãi mình vướng vào bạo bệnh, sau nhiều đêm đắn đo, cụ Tế Công đã quyết định dạy võ cho cụ Tiển, bởi từ khi ra đời, nội công của Vịnh Xuân đã chiến thắng nhiều căn bệnh nan y.

Và, thật diệu kỳ, chỉ sau một thời gian luyện tập, bạo bệnh vốn hành hạ cụ Tiển bao nhiêu năm đã bị đẩy lùi. Và, cũng từ khi dạy võ cho cụ Tiển thì cụ Tế Công mới bắt đầu nhận đệ tử để truyền thụ những tinh hoa võ học mà mình có được.

Buổi tiếp khách có một không hai

Vịnh Xuân thiên về nhu, lấy nhu chế cương và phân biệt rạch ròi giữa nội công và nội lực. Nội công là khả năng chịu đòn, nội lực là lực đánh ra. Cả hai thứ trên, trong làng võ hiếm môn phái nào sánh kịp. Theo cụ Tế Công, học võ chỉ vỏn vẹn 2 năm nhưng những khả năng siêu phàm ấy của sư phụ mình, đến giờ, lão võ sư Phan Dương Bình vẫn còn ấn tượng.

Ông kể, đã có lần, với nội lực kinh hoàng, chỉ một chưởng, cụ Tế Công đã đánh bật một bao tải gạo nặng đến gần 2 tạ văng tuột cả bốn năm thước từ đầu bàn này sang đầu bàn kia. Lần nữa, ở ngay nhà cụ Tế Công, ông đã được tận thấy sức mạnh kinh hoàng của sư phụ mình. Hôm ấy, nhác thấy hai người Tàu đang ngáo ngơ trên phố, cụ Tế đã vẫy ông và bảo: “Pha cho thầy ấm trà ngon, sắp có khách quý!”.

Quả như lời thầy, khi chén trà nóng hôi hổi vừa được rót ra thì hai vị khách người Tàu đã đứng ngay trước mặt. Cầm chén nước trên tay, cụ Tế cung kính mời khách theo đúng nghi thức của người Trung Hoa. Thế nhưng, đó chẳng phải là kiểu mời nước bình thường. Chủ tay nắm chặt chén nước, khách thì phùng mồm trợn mặt bóp chặt tay chủ phía ngoài.

Chủ vẫn vẻ mặt điềm nhiên, nói nói cười cười tiến ra cửa và đẩy khách ra theo. Bị đẩy, người khách thứ hai vội vã nhảy vào tiếp sức nhưng cũng chẳng thấm tháp gì. Cả hai bị chủ dồn ra tận ngoài cửa, trong khi chén nước trên tay chủ vẫn không hề sóng sánh. Đến khi ấy thì hai vị khách phải nhượng bộ, nhảy dạt sang hai bên và chắp tay, nói những lời khâm phục.

Lão võ sư Phan Dương Bình kể, khi mời khách trở lại nhà, trò chuyện, ông được biết, hai vị khách ấy 10 năm trước, trong cuộc tỉ thí đã bị sư phụ Tế Công đánh bại. Mười năm, họ đã dồn hết tâm trí, sức lực để luyện võ và lặn lội khắp nơi để tìm cụ Tế, những mong trả được mối hận năm nào. Thế nhưng, chỉ bằng động tác thử trên, họ đã biết, võ công của mình còn kém cụ Tế rất nhiều.

Nối gót sáng tổ Nguyễn Lộc phát dương Việt Võ đạo

Cụ Tế Công có người bạn thân là Chung Cảnh Vân, cũng một cao thủ của đất võ Trung Hoa, thuộc phái Thiếu lâm Hồng gia.

Cụ Chung thích phiêu bạt giang hồ, bởi vậy, khi thấy bạn mình tới Việt Nam, ngay lập tức cụ Tế đã giới thiệu ông tới học để mở mang thêm kiến thức. Chung sư phụ là người có cá tính, nóng nảy. Lão võ sư Phan Dương Bình kể, tuy là chỗ thâm giao (rất nhiều lần Chung sư phụ đến tận nhà ông để uốn nắn võ nghệ) nhưng là người nghiêm khắc nên sư phụ ông vẫn giáo cậu học trò cưng của mình vô cùng khắt khe. Chỉ nguyên chuyện đứng tấn thôi mà đến giờ nghĩ lại ông vẫn còn… thấy hãi.

Bắt cậu học trò đứng như tượng gỗ ở một góc, Chung sư phụ cứ thế mải mê cuộc cờ, chén rượu. Ấy vậy mà nếu cậu học trò chân tay rã rời mà nhúc nhích là y rằng… ăn chưởng.

Truyền thụ vừa hết những công phu của mình cho cậu học trò ham học thì bởi lý do riêng, cụ Chung phải về Trung Quốc. Thầy trò chia tay nhau, nước mắt vắn dài.

Như cánh chim không biết mỏi trên bầu trời võ thuật, muốn hấp thụ thêm những tinh tuý võ công của các môn phái khác, ông quyết định bôn ba tiếp trên con đường tầm sư học đạo. Lúc này, ở Hà Nội, danh tiếng của võ sư Nguyễn Lộc, sáng tổ môn phái Vovinam – Việt võ đạo đang nổi như cồn.

Võ sư Nguyễn Lộc, sinh năm 1912 tại làng Hữu Bằng, Thạch Thất, Hà Tây. Dựa trên môn võ vật cùng các môn võ cổ truyền của Việt Nam, chắt lọc những tinh hoa của võ thuật trên thế giới, cụ đã phát triển một môn phái võ rất riêng lấy tên là Vovinam, ra đời năm 1938.

Lão võ sư Phan Dương Bình kể, tìm hiểu, thấy tinh thần vẻ vang của Vovinam và của võ sư Nguyễn Lộc rất phù hợp với mình, ngay lập tức ông khăn gói tìm đến võ đường đang là nơi sinh hoạt của rất nhiều thanh niên Hà thành ấy. Ngay buổi đầu tiếp xúc, võ sư sáng tổ của môn phái giờ đã nổi tiếng khắp năm châu đó đã vô cùng quý mến ông.

Thấy ông đã có căn bản, quyền cước thì vô cùng uyển chuyển, võ sư Nguyễn Lộc đã mời ông lưu lại ngay tại nhà mình để rèn dạy và phụ trách việc trợ giảng. Võ sư Nguyễn Lộc hơn ông 18 tuổi, tuy danh nghĩa là thầy trò nhưng chỉ ít bữa biết nhau, hai người đã tình thâm như ruột thịt.

Những ngày ở bên võ sư Nguyễn Lộc, ông không những được trau dồi rất nhiều kiến thức võ học uyên thâm mà còn học được ở người thầy, người anh ấy rất nhiều đức tính quý báu mà cả đời ông sẽ chẳng thể nào quên. Có lần, tâm sự, võ sư Nguyễn Lộc đã nói với ông rằng: “Là võ sinh thì phải tôn thờ danh dự võ sĩ Việt Nam. Hiểu biết nhiệm vụ và nguyện hi sinh cho lý tưởng của người võ sĩ, xứng đáng với tên gọi vì nghệ thuật và nhân loại.”.

Cuộc thượng đài chấn động bất thành

Trước năm 1954, trước làn sóng đấu tranh sôi nổi của thanh niên Việt Nam, thực dân Pháp đã đứng ra thực hiện rất nhiều hoạt động thể thao, mục đích là ru ngủ phong trào quần chúng. Bởi thế, tại Hà Nội, các võ đài mọc lên ở khắp nơi và cũng thu hút rất nhiều cao thủ từ khắp mọi miền về tranh tài, thi thố.

Những võ đài ấy không những có sức hút với các võ sĩ trong nước mà còn hấp dẫn cả những cao thủ nước ngoài. Với các võ sĩ ngoại quốc, khi được nhà cầm quyền bật đèn xanh, họ đến Việt Nam không chỉ là tìm đối thủ để tranh tài, phân biệt cao thấp mà còn biến đó thành cơ hội để kiếm bộn tiền.

Mỗi trận thượng đài của họ đều tổ chức bán vé và thu hút rất nhiều khán giả tới xem. Với chủ đích trên, khoảng đầu năm 1953, hai anh em võ sư nổi tiếng ở Hồng Kông là Vương Bang Phu, Vương Bang Dân cũng tìm về Hà Nội.

Trong hai anh em thì Vương Bang Phu sức khoẻ phi thường. Đại lực sĩ này có thể vật ngã cả con bò mộng, tay không bẻ cong nhíp ô tô, kê ván trên người để mấy chục khán giả trèo lên nhún nhảy mà mặt vẫn không hề biến sắc.

Người em Vương Bang Dân thì thân thủ nhanh nhẹn, quyền thuật biến ảo khôn lường. Tại Hông Kông, suốt gần chục năm, hai anh em thượng đài mà vẫn chưa tìm ra đối thủ.

Bởi thế, đến Hà Nội, thách đấu đã vài ngày mà chưa tìm thấy ai nhận lời thách đấu, Phu, Dân đành dùng kế khích tướng và cũng là để lôi kéo khán giả đến xem những trận thượng đài của mình. Hai anh em Vương đã loan tin rằng, họ vừa đánh gục thần tượng của thanh niên thủ đô, võ sư Nguyễn Lộc. Tin ấy truyền đi khắp mọi nơi khiến nhiều người, dù biết là tin vịt vẫn vô cùng phẫn nộ.

Tại võ đường của Vovinam, là người điềm đạm nên võ sư Nguyễn Lộc chẳng chút bận tâm tới sự hỗn hào của hai võ sĩ ngoại quốc. Tuy thế, các học trò của ông, đặc biệt là võ sư Phan Dương Bình thì hết sức bức xúc, nằng nặc đòi rửa nhục cho thầy, cho môn phái. Và, bí mật, ông đã tìm hai anh em họ Vương để nhận lời thách đấu.

Thông tin ấy ngay lập tức thành đề tài nóng hổi của báo giới trong nước và nước ngoài. Dân tình sôi sục, chờ mong đến ngày hổ đấu, long tranh. Sự căng thẳng của trận đấu trên đã khiến nhà chức trách lo lắng và ngay lập tức phải nhảy vào can thiệp.

Ngay trước ngày thượng đài, võ sư Phan Dương Bình bị nhà cầm quyền bắt nhốt. Vậy là, trận đấu được rất nhiều người mong đợi trên đành phải huỷ bỏ. Võ sư Phan Dương Bình kể, biết đã đụng chạm đến tinh thần thượng võ của người Việt nên ngay ngày ông bị bắt nhốt thì hai anh em Phu, Dân gửi lời xin lỗi chính thức đến ông, đến võ sư Nguyễn Lộc và toàn thể những người học võ ở Hà Nội. Lời xin lỗi đó được đăng tải trên khắp các mặt báo khiến dư luận được một phen hả hê, phấn khích.

Một ngày chịu hàng ngàn cú đấm

Sau sự nổi tiếng của hiện tượng Lý Tiểu Long vào thập niên 70 của thế kỷ trước, Vịnh Xuân quyền đã được rất nhiều môn sinh theo học. Và, trên khắp thế giới, rất nhiều những võ đường của Vịnh Xuân đã được khai trương. Thế nhưng, ngoài cái nôi là Trung Hoa, chỉ có hai nơi Vinh Xuân thu gặt hái được nhiều thành công, hội tụ nhiều cao nhân nhất, đó là Hồng Kông và Việt Nam. Điều ấy đã được danh sư Tế Công thừa nhận khi ông rời Hà Nội vào Nam sinh sống.

Lúc chia tay, nhìn sự trưởng thành của đám học trò mình, buột miệng ông bảo: “Vịnh Xuân đã sang Việt Nam mất rồi!”. ở Hồng Kông, sư đệ của cụ Tế Công là danh sư Diệp Vấn cũng đưa Vịnh Xuân phát dương quang đại với Vịnh Xuân Hồng Kông. Tại chi phái này, ngoài Lý Tiểu Long, tông sư Diệp Vấn còn có một đệ tử chân truyền, tiếng tăm lừng lẫy là Ngũ Sáng. Ngũ Sáng có trưởng tràng là Trần Nghị Khiêm, một thần đồng võ thuật. Lão võ sư Phan Dương Bình kể, 15 năm trước, Trần Nghị Khiêm có đến Việt Nam. Và, người đầu tiên mà Trần sư phụ muốn gặp là lão võ sư Phan Dương Bình.

Ông Bình kể, Trần Nghị Khiêm là người cao lớn, quyền thuật nặng tính cương. Hai người đã vài lần thử sức, nhưng bất phân thắng bại. Sau những trận thử tài ấy, khâm phục về nội công của người đồng môn, Trần Sư phụ đã nhờ ông chỉ giáo.

Lão võ sư Phan Dương Bình giờ có nhiều học trò, không chỉ ở trong nước mà còn ở nhiều nơi trên thế giới. Họ là những người ngưỡng mộ Vịnh Xuân nên tìm về Hà Nội.

Lão võ sư bảo, người Tây học võ thực dụng hơn người Á Đông, bởi thế, trước khi bái ai đó làm sư thì họ thường… thử luôn tài sức của người đó. Từ năm 1982, khi phong trào võ thuật của Hà Nội được khôi phục đến giờ không biết bao nhiêu lần ông được (bị) các võ sinh phương Tây thách đấu. Sau tất cả các cuộc thử tài ấy, ông đều nhận được thêm những đệ tử một lòng hướng về võ thuật chân chính.

Năm 1995, một câu lạc bộ võ thuật nổi tiếng ở Đức, sau khi cho thành viên của mình sang Việt Nam thăm dò, đã mời đích thân ông sang đó dạy võ. Cuộc “ly hương” này đến giờ nhiều người vẫn còn ấn tượng và được nhiều tờ báo lớn ở Đức đăng tải. Tại đó, với nội công siêu phàm của mình, ông lão võ sư tuổi đã ở ngưỡng xưa nay hiếm ấy đã lên một lịch tập kinh hoàng. Từ 14 giờ đến 18 giờ mỗi ngày, các môn sinh lực lưỡng có thể thoải mái tung hàng ngàn cú đấm vào thân

Kỹ năng “thần đả”

Bây giờ, tuổi đã gần 80 nhưng lão võ sư Phan Dương Bình vẫn còn nhanh nhẹn lắm. Gặp ông tại căn gác yên tĩnh tại phố Hàng Bạc, ông bảo, chính nghiệp võ đã cho ông một sức khoẻ dồi dào.

Sáng nào cũng vậy, cứ như đồng hồ, 3 giờ sáng đã thấy ông ngồi dậy với bài khí công quen thuộc. Khí lực siêu phàm, như nhiều cao thủ Vịnh Xuân khác, tuổi ấy, ông vẫn có thể để mọi người thẳng tay nện hết sức vào người mà sắc mặt vẫn không hề suy chuyển.

Về quyền cước, hiện tại, ông cho biết, kỹ năng của ông đã đạt tới mức “thần đả”, đỉnh giới cao siêu của võ thuật. Đỉnh giới ấy là “tâm ứng thủ”, nghĩa là nghĩ ra đòn ở bộ phận nào thì lực đã có sẵn ở bộ phận đó, không cần vận đà nhiều. Luyện tới đỉnh giới đó thì người võ sư chỉ cần nghĩ ra động tác, chiêu thức thì ngay lập tức chân tay thực hiện chính xác, thành công chứ không cần qua tập luyện.

Tuổi cao, nhưng ông còn rất nhiều dự định với nghiệp võ của mình. Tâm sự, ông bảo, ông rất thần tượng Hoắc Nguyên Giáp, một võ sư nổi tiếng của Trung Quốc. Vị võ sư ấy bằng tài năng đã dựng lên Tinh võ quán oai danh một thủơ và hội tụ nhiều võ sư tài nghệ cao thâm.

Nguồn: http://giadinh.net.vn/the-thao/chuyen-ve-su-huynh-cua-ly-tieu-long-13802.htm