Trò chuyện cùng võ sư Châu Phong

Đây là buổi trò chuyện của phóng viên báo Lao Động cùng võ sư Nguyễn Châu Phong, chủ nhiệm võ đường Vĩnh Xuân Châu Phong, về môn Vĩnh Xuân Quyền. Dưới đây là nội dung buổi trò chuyện.
Vĩnh Xuân_ChauPhong(1)

Trước đây, Vĩnh Xuân quyền từ chỗ chỉ được truyền dạy âm thầm trong các gia tộc, nay trở thành một trong những môn võ được nhiều người say mê luyện tập nhất, với hàng triệu đệ tử trên toàn thế giới.
Vĩnh Xuân quyền thường gắn với huyền thoại Lý Tiểu Long (1940-1973) – diễn viên võ thuật nổi tiếng Hollywood thập niên 1970. Tuy nhiên, tìm được một chân sư không hề đơn giản. Võ sư Nguyễn Châu Phong (SN 1956) là một người như thế, ông là đệ tử lớn của cụ Trần Văn Phùng (một trong những học trò đầu tiên của sư tổ Nguyễn Tế Công – hay còn gọi là Tài Cống – người truyền bá Vĩnh Xuân vào Việt Nam).

Trên sân võ, thoạt nhìn, cái dáng mảnh mai, cao lòng khòng bề ngoài của võ sư Nguyễn Châu Phong đã đánh lừa các môn sinh. Khi giao thủ, phản xạ của ông cực nhanh và những cú đánh còn lẹ hơn điện xẹt. Trong chớp mắt, môn sinh đã nằm lăn trên mặt đất, còn người ngoài đứng xem tuyệt không nhìn rõ đòn ra của ông. Võ sư Nguyễn Châu Phong nhấn mạnh: Vĩnh Xuân quyền khoan thai mà dũng mãnh.

- Theo ông, đâu là đặc trưng và thế mạnh của Vĩnh Xuân quyền so với các môn phái khác?

- Vĩnh Xuân quyền xuất phát từ Trung Quốc, đặc trưng môn này có nhiều nét đặc dị bởi nó có những bài luyện tập hết sức đặc biệt như niêm thủ, niêm cước, niêm thân hay linh giác. Hệ thống quyền thuật đơn giản không giống một môn phái nào, nhìn bề ngoài các môn sinh tập Vĩnh Xuân quyền luyện tập những động tác hết sức đơn giản, khoan thai nhẹ nhàng, không khoa trương hay bay nhảy, đã có nhiều người không thích vì không hiểu chiều sâu và hiệu quả của nó, thậm chí còn suy nghĩ: Thế này mà là võ ư? Thực ra, có thể xem Vĩnh Xuân quyền là môn “nhu thuật”, một môn thể thao nghệ thuật có tư duy logic rất cao. Nó là môn võ dành cho những người yếu, người yếu mà tập nó sẽ khắc phục được tình trạng sức khỏe (có rất nhiều người mang những bệnh mạn tính trong người, khi tập Vĩnh Xuân đã hết bệnh), thấy khỏe hơn, sung mãn hơn. Còn người khỏe mà tập nó thì sức lực càng vô cùng và bản thân Vĩnh Xuân quyền còn là môn võ được đúc kết, cắt gọt đến mức tinh giản, nên tính hiệu quả chiến đấu cực cao…

- Hiện ở VN có mấy nhánh của Vĩnh Xuân quyền và nó có khác nhau nhiều không, thưa ông?

- Ở miền Bắc hiện nay có nhiều nhánh như nhánh cụ Trần Văn Phùng (sư phụ của tôi), nhánh cụ Trần Thúc Tiển, nhánh cụ Vũ Bá Quý, cụ Ngô Sỹ Quý… và nhiều nhánh ở trong TPHCM nữa…. Về cơ bản, gốc đều như nhau, nhưng trong khi học Vĩnh Xuân quyền, mỗi người đều hiểu, học nó theo cái ngộ của chính kiến bản thân mình. Sau này, khi phát triển và truyền dạy theo đó cũng khác nhau.

- Hẳn cũng như các môn phái khác, Vĩnh Xuân quyền đòi hỏi sự khổ luyện, nhưng sự khổ luyện ở đây có gì đặc biệt không, thưa ông?

- Việc khổ luyện chia theo từng giai đoạn. Sự khổ luyện nằm trong ý thức, với tôi 24h trong ngày là tập và luyện. Không nhất thiết phải tạo ra một cung thời gian, vì mỗi người có những điều kiện khác nhau. Bất kỳ môn võ nào cũng đều cần khổ luyện. Nếu có ý chí và quyết tâm cao thì có thể vượt qua tất cả và chắc chắn sẽ thành công.

Theo tôi, tư chất của mỗi người là quan trọng, nhưng quan trọng hơn là anh có thực sự đam mê và trân trọng cái anh đam mê không. Nếu không đi chuyên sâu thì không hiểu được. Phải gặp được danh sư (còn gọi là chân sư đích thực), phải được truyền dạy để hiểu thấu đáo. Phải toàn tâm toàn ý, nếu học chỉ để dùng ngay thì chỉ là học cái ngọn hay một vài kỹ thuật đánh đấm, làm sao hiểu được cái cốt lõi, tinh hoa của võ đạo? Như để hiểu được “tâm ứng thủ” phải là cả một quá trình rèn luyện, phải được thầy chỉ dạy đến nơi đến chốn, rồi “bắt địch theo ta”… phải đạt tới tinh hoa trong chiến đấu.

- Thưa ông, trong Vĩnh Xuân quyền có khái niệm “vô chiêu thắng hữu chiêu”?

- Phải hiểu thế nào là “tâm ứng thủ”, đứng trước đối thủ, làm sao biết đối thủ dùng chiêu thức như thế nào, dùng thế tay hay thế chân nào? Phải có một quá trình luyện tập công phu thì chỉ cần nghĩ tới động tác, chiêu thức thì ngay lập tức chân, tay sẽ thực hiện những đòn thế chính xác, thành công. Ngoài khổ luyện thì có 3 cấp, đúng hơn là 3 hệ: Hệ chiến đấu – hệ giao đấu – hệ biểu diễn. Cũng như đẳng cấp trong võ thuật có 3 cấp: Võ biền, võ thuật và võ đạo. Đạt tới võ đạo là đạt tới tinh hoa của triết lý sống…

- Các lò võ Vĩnh Xuân quyền ở ta hiện nay có nhiều lò tuân theo “cái gốc” căn bản của nó không, thưa ông?

- Cây có 1 gốc, nhưng có nhiều nhánh, 1 nhánh sinh ra nhiều cành. Ở ta, nhiều lò, ngay cả thầy dạy cũng chưa nắm được gốc cơ bản, toàn là cóp nhặt ba cái chiết chiêu. Đến “bát thủ pháp” – thầy dạy còn chưa biết. “Manh sư” thì nhiều, danh sư thì ít… cái đó thật đáng buồn! Như “Tiểu hình luyện thủ” là bài quyền của Vĩnh Xuân, các môn sinh mới nhập môn đều phải tập bài đó để luyện tay. Thủ ở đây là tay, không phải là phòng thủ, đánh thì đỡ, gạt, thủ sau thì công. “Đầu bất chính, thì chung sinh bất chính” – cái đầu tiên đã sai thì dù có khổ luyện, cả hệ thống về sau đều sai. Ngoài những chiêu thức, kỹ thuật mà sư phụ từng dạy tôi, người còn truyền lại rất kỹ cho tôi cả về khẩu quyết và tâm pháp…

Vĩnh Xuân quyền còn đi vào thơ ca: “Đôi tay Vĩnh Xuân như hai dải lụa hồng, đánh cho địch thủ như con thuyền say sóng/ Ta theo địch như hình với bóng/ Địch theo ta như vực sâu thăm thẳm”…

(Nói đến đây, võ sư Nguyễn Châu Phong dắt cậu con trai đang ở tuổi trưởng thành của ông ra tập cho chúng tôi xem. Lẹ làng, khoan thai mà dũng mãnh, những đòn đánh biến ảo khôn lường, chỉ có điều ông “tua” thật chậm để chúng tôi nhìn ra được đòn thế).
Vĩnh Xuân_ChauPhong(2)
Võ sư Nguyễn Châu Phong nói tiếp:

Vĩnh Xuân quyền nhu nhưng không nhược, cương mà không cứng. Cứng mà bẻ không gãy. Mềm mà không nắn được. Để đạt tới công phu đôi tay, học cả đời chưa hết, vì thế Vĩnh Xuân quyền ít dùng chân, vì tay mà đã lợi hại như thế thì dùng chân còn lợi hại đến đâu. Thực tế cước pháp Vịnh Xuân rất phong phú, bao gồm cả những chiêu thức dùng chân ở tầm cực thấp với những đòn chấn khớp có uy lực khủng khiếp và những chiêu thức đánh vào sự thăng bằng của đối thủ. Tuy nhiên, do nguyên tắc “túc bất ly địa” (chân không rời khỏi mặt đất) của Vĩnh Xuân, cước pháp Vĩnh Xuân chỉ truyền dạy cho học trò cao cấp, sau khi môn sinh đã luyện tập tốt sự thăng bằng và có sự phối hợp với thủ pháp nhuần nhuyễn. Chưa kể, vũ khí của Vĩnh Xuân quyền còn có “Bát trảm đao”, “Lục điểm bán côn”. Đã học phải học cho đủ, cho thấu đáo, sau này tùy vào hoàn cảnh nào, gặp cái gì thì dùng cái đó.

Câu chuyện với võ sư Nguyễn Châu Phong thật thú vị, ông nói với chúng tôi không chỉ là võ thuật mà còn là triết học, là sự cân bằng âm dương hiểu sao cho đúng, là sự vi diệu của võ đạo mà ông đã ngộ được. Cũng vì thế mà khi được hỏi về những lần ra đòn chiến đấu của ông, Võ sư Nguyễn Châu Phong chỉ cười, không nói…

Với Vĩnh Xuân quyền, phải nắm vững được những kỹ thuật như bát tượng: Nâng, tỳ, vít, đẩy, chấn, triệt, lôi, đả; hay Ngũ hình quyền biểu hiện 5 ngũ tính: Cương, nhu, dũng, trí, tĩnh. Ngũ tính của con người luân chuyển theo các ảnh hưởng tác động ngoại lai, có lúc rất cương trực, có lúc rất mềm mại… như 5 con vật long, hổ, báo, xà, hạc… Luyện võ là để lấy cái dũng, để chế ngự và tiêu diệt sự nhút nhát bản năng của con người, giữ được sự điềm đạm và sáng suốt khi gặp nguy hiểm, để có những giải pháp phù hợp trong tất cả mọi việc của cuộc sống thường ngày, chứ không phải là lấy việc đánh đấm hơn thua làm thước đo thành quả.

Nguồn: Báo Lao Động Online

http://laodong.com.vn/lao-dong-hang-ngay/dat-toi-vo-dao-la-dat-toi-tinh-hoa-cua-triet-ly-song-109611.bld

Đôi tay Vĩnh Xuân Quyền

Đôi tay Vĩnh Xuân

Đôi tay Vĩnh Xuân

Chúng ta thử xem qua hệ thống quyền pháp của Vĩnh Xuân Quyền sẽ rõ. Đó là một công việc khổ luyện gần như cả đời người để thu thập và ứng dụng một cách thích hợp mỗi động tác và sự kết hợp kỳ diệu của mỗi đòn tay. Nó có điểm khác biệt cơ bản là không nhất thiết phải thuộc lòng các chiêu thức chiến đấu như một số môn phái khác. Đồng thời có sự phân giải về các chiêu thức một cách hòa hợp, ăn khớp như một số người quan niệm biểu đồng tình.

Có những người cho rằng quyền Vĩnh Xuân đơn giản và thực dụng nhất. Điều đó, ở một góc độ nào đó, có thể xem như đúng. Bởi vì suy cho cùng “bát môn pháp” cũng có thể bắt nguồn từ ba tay : Tán thủ, Phục thủ và Bàng thủ (Ngửa bàn tay, Úp bàn tay, và Đưa khuỷu tay). Ba tay quyền căn bản này bao quát cả trăm ngàn thế tinh hoa biến hóa của quyền Vĩnh Xuân.

Theo thường lệ, tất cả quyền thuật Trung Hoa đều dùng một phương pháp cổ truyền và duy nhất là đánh và đỡ. Khi đối phương dùng quyền đánh ta, thì ta dùng một cánh tay để đỡ và dùng một cánh tay khác để đánh lại đối phương, hoặc dùng chân để phản công đối phương.

Theo thứ tự, thì dù ta đỡ bằng tay hay chân, đều đứng sau cái thể công (đánh hoặc đá của địch). Vả lại, cái đánh trả với cái đỡ không thể nào làm cùng một lúc được : nghĩa là phải dùng cả hai tay, một tay đỡ và tay khác đánh lại.

Nhưng quyền Vĩnh Xuân thì khác hẳn. Nếu đối phương dùng quyền tay hay dùng đòn chân đánh hoặc đá ta, thì hễ ai đã tập quyền Vĩnh Xuân thì đều hiểu rằng : Hễ quyền hay cước của địch bị ta tiếp được (có nghĩa là thu hút được), thì tức khắc ta chỉ dùng một tay hay một chân đánh lại, vì quyền Vĩnh Xuân làm tiêu tan các thế công bằng một kỹ thuật đặc biệt, và đó cũng là đòn phản công tức khắc.Đó là chỗ tuyệt diệu của quyền pháp Vĩnh Xuân.

Cho nên, quyền pháp Vĩnh Xuân có câu “Đả thủ tức vi Tiêu thủ”, ý nói tay đánh tức là tay giải (Giải là làm tiêu tan cái thế công của địch).

Còn có một câu khẩu quyết là : “Thủ lưu trung”, nghĩa là hai tay lúc nào cũng để trước giữa ngực (Cả trên, dưới). Khi ta ra tay đánh địch đều do trung lộ tiến đi (tức là hai cánh tay một quyền, một chưởng). Bao giờ cũng làm thành một hình trung tâm điểm để phòng ngự đầu và toàn thân. Dù địch mau lẹ và cường mạnh đến đâu, ta đều có thể làm cho đôi tay của địch lúc nào cũng ở ngoài tay phòng ngự của ta. Như vậy ta chiếm thế thượng phong, có ngay ưu thế dù là công hay thủ. Cho nên quyền Vĩnh Xuân đánh ra thì thành xung quyền hình chữ nhật do tâm tạng (ở giữa ngực) xuất phát đường kinh tuyến, thẳng một mặt tiến đánh đối phương, tựa như chạy theo đường cung huyền (như dây cung bật ra).

Nếu địch dùng quyền đánh, ta dùng lối quyền “ném” hay lối quyền “câu”, còn gọi là quyền dây cung. Dù so sánh quyền pháp giữa các môn phái khác, xuất phát từ hai bên eo với xung quyền hình chữ nhật của Vĩnh Xuân thì quyền Vĩnh Xuân vẫn dài hơn. Đó là nguyên nhân tại sao quyền Vĩnh Xuân phát xuất từ trước ngực.

Người ta thường dùng cây cung và thân cây cung để ví với tay quyền Vĩnh Xuân, ta cũng có thể dùng cây mây để làm ví dụ. Khi một lực tấn công phía trước, ta có thể dùng tay ngửa, tay úp hay chìa khuỷu tay (tán, phục, bàng thủ) khiến cho địch thủ có cảm tưởng như đánh vào một cây mây bị áp lực ảnh hưởng, cong vào một bên; đến khi quyền địch thủ để lộ ra khuyết điểm (nơi trống, tiện tấn công)thì quyền Vĩnh Xuân như thanh mây bật ngược lại xung thẳng vào đối phương với sức mạnh vô cùng.

Do đó, trong môn phái Vĩnh Xuân có một câu truyền khẩu “Lai lưu khứ tống, thoát thủ trực xung” (Tới thì giữ, đi thì đưa, duỗi hoặc rời tay thì tiến tới).

“Đó là phương pháp sử dụng các thế Na, Phục, Bàng… Tuyệt không bao giờ hất ngang hay lắc qua hai bên trái hay mặt. Đưa là đưa sang phía trước, xung cũng là xung ra phía trước. Còn tay lưu chỉ để tiếp đón hay chận đứng quyền của địch. Không cần dùng đến sức khỏe mà có thể đẩy được địch qua một bên”.

Chính vì chỗ sâu diệu này mà Võ sĩ Lý Tiểu Long sau khi đã học với Diệp Vấn tiên sinh, đã lãnh hội tinh túy của công phu quyền pháp Vĩnh Xuân, nên đã cho ra đời môn Triệt Quyền Đạo (có thể tạm tóm tắt là con đường ngắn nhất để biến thủ thành công, hoặc công thủ không phân biệt, hoặc nôm na hơn: đỡ tức là đánh).

Ngoài quyền pháp sâu diệu, người học Vĩnh Xuân quyền còn phải luyện khí công để chủ động được kình lực của mình. Kình phải lấy gân làm gốc, có đàn tính, hoạt tính. Tập khí công nội công, chuyển động đường gân, uyển lực phát triển, lấy khí dẫn lực… chủ động gân cốt, phát triển được kình. Lực phá hủy bên ngoài, kình phá hủy bên trong. Việc phóng kình như bắn một mũi tên. Kình có thể tụ vào đầu ngón tay, phóng với tốc độ nhanh có thể phá hủy các bộ phận bên trong. Đó mới thực sự là sự công phá. Khi một người phóng kình đúng, các đầu ngón tay sẽ rung bật lên. Đó là dấu hiệu công lực của mỗi người. Môn công phu đỉnh cao của kình lực chính là nhất dương chỉ vậy.

Nguồn: VS. Thi Đạt Chí, Trích Tân Võ học – xuất bản tại Hồng Kông số 72/1972

Dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện (Phần 1)

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (1913-1997), một nhà tri thức lớn của Việt Nam. Ông đã được  Nhà nước Việt Nam trao tăng Huân Chương Độc lập Hạng ba, và được Viện Hàn lâm khoa học Pháp trao giải Grand prix de la Francophonie. Ngoài ra, ít người biết rằng, ông còn là môn đồ của môn Vĩnh Xuân. Ông là học trò của cố võ sư Trần Thúc Tiển, một cao đồ của Tôn sư Nguyễn Tế Công. Ông đã kết hợp phương pháp luyện tập của môn Vĩnh Xuân do sư phụ truyền dạy với kiến thức tây y sâu sắc của mình để đưa ra một phương pháp dưỡng sinh hết sức hiệu quả.  Phương pháp này đã giúp cho ông có thể sống vui sống khoẻ dù phải lên bàn mỗ 7 lần, cắt bỏ hơn một lá phổi với 8 chiếc xương sườn.

Khẩu quyết hít thở dưỡng sinh của ông:

Thót bụng thở ra

Phình bụng thở vào

Hai vai bất động

Chân tay thả lỏng

Mặt Phật ung dung

Tập trung theo dõi

Luồng ra luồng vào

Bình thường qua mũi

Khi gấp qua mồm

Êm, chậm, sâu, đều

Ðứng ngồi hay nằm

Ở đâu cũng được

Lúc nào cũng được.